Từ 26/5/2026, Nghị định 185/2026/NĐ-CP chính thức thay thế Nghị định 33/2023/NĐ-CP, nâng mức khoán quỹ phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, đồng thời quy định rõ tiêu chuẩn phẩm chất và năng lực của trưởng thôn, tổ trưởng dân phố.
Lương và phụ cấp của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố theo Nghị định 185/2026/NĐ-CP
Căn cứ khoản 1 Điều 15 Nghị định 185/2026/NĐ-CP, Nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp bao gồm cả phần hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội để chi trả hàng tháng cho người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí không quá 03 người hoạt động không chuyên trách, gồm trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố, bí thư chi bộ và trưởng Ban công tác Mặt trận, quỹ phụ cấp khoán sẽ chi trả cho các chức danh này theo mức cụ thể do địa phương quyết định.
Theo đó, các thôn có từ 700 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 1.000 hộ trở lên, thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn trọng điểm về quốc phòng, khu vực biên giới, hải đảo hoặc thôn đặc biệt khó khăn sẽ được áp dụng mức khoán quỹ phụ cấp bằng 8 lần lương cơ sở (trước đây theo Nghị định 33/2023/NĐ-CP là bằng 06 lần)
Mức lương cơ sở hiện nay vẫn áp dụng ở mức 2,34 triệu đồng/tháng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP. Do vậy, mức khoán quỹ phụ cấp đối với 03 chức danh hoạt động không chuyên trách từ 26/5/2026 là 18,72 triệu đồng.
Từ 01/7/2026, theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng, thời điểm này, quỹ phụ cấp đối với 03 chức danh hoạt động không chuyên trách sẽ tăng lên 20, 24 triệu đồng.
Đối với các thôn, tổ dân phố còn lại, mức khoán phụ cấp được áp dụng 6,5 lần lương cơ sở (trước đây là 4,5 lần), tương đương 15,21 triệu đồng/tháng trước 01/7/2026 16,45 triệu đồng/tháng từ 01/7/2026.
Mức khoán này được xác định căn cứ khả năng cân đối ngân sách địa phương, đặc thù từng địa bàn và các quy định pháp luật liên quan.
UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức phụ cấp của từng chức danh, mức phụ cấp kiêm nhiệm, số lượng, chức danh và mức hỗ trợ đối với các chức danh khác tham gia hoạt động tại thôn, tổ dân phố.
Nếu địa phương tự bố trí mức khoán cao hơn mức Nhà nước, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định mà không cần xin ý kiến các bộ, cơ quan trung ương. Người hoạt động không chuyên trách vẫn được hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ khác theo quy định pháp luật hiện hành.
Có thể hình dung lương và phụ cấp của Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố theo Nghị định 185/2026/NĐ-CP trước và sau thời điểm 01/7/2026 qua bảng sau:
|
Nhóm thôn, tổ dân phố |
Điều kiện áp dụng |
Mức khoán phụ cấp theo NĐ 185/2026 |
Mức khoán trước đây theo NĐ 33/2023 |
|---|---|---|---|
|
Thôn ≥700 hộ, tổ dân phố ≥1.000 hộ; địa bàn trọng điểm, thôn đặc biệt khó khăn |
Quy mô lớn hoặc địa bàn đặc thù |
08 lần lương cơ sở (20,24 triệu từ 01/7/2026; 18,72 triệu trước 01/7/2026) |
06 lần lương cơ sở |
|
Các thôn, tổ dân phố còn lại |
Địa bàn khác |
6,5 lần lương cơ sở (16,45 triệu từ 01/7/2026; 15,21 triệu trước 01/7/2026) |
4,5 lần lương cơ sở |

Tiêu chuẩn trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố
Theo Điều 7 Nghị định 185/2026/NĐ-CP, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố phải là:
Trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố phải là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại địa bàn xã, phường hoặc đặc khu, từ đủ 21 tuổi trở lên, ưu tiên người trong độ tuổi lao động theo quy định, có sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao.
Bên cạnh đó, phải có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu, có uy tín trong cộng đồng dân cư và được nhân dân tín nhiệm; bản thân và gia đình gương mẫu trong đạo đức, lối sống, đồng thời chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Ngoài ra, trưởng thôn, tổ trưởng cần có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức nhân dân thực hiện hiệu quả các công việc tự quản của cộng đồng, triển khai đầy đủ các nhiệm vụ do cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã giao, đồng thời khuyến khích lựa chọn những người có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu hoạt động của thôn, tổ dân phố.
Người được lựa chọn cũng cần có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ nhiệm vụ, đồng thời có năng lực lập kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định.
Người được bổ nhiệm làm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố không được đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án.
Trên đây là thông tin về Lương trưởng thôn, tổ trưởng dân phố theo quy định mới tại Nghị định 185/2026/NĐ-CP.
RSS