- 1. Doanh nghiệp không phải đóng BHTN của lao động khuyết tật trong 12 tháng đầu
- 2. Thời hiệu khởi kiện khi doanh nghiệp không đóng đủ BHTN là 3 tháng
- 3. Hướng dẫn về tiền lương làm văn cứ đóng BHTN với người làm việc không trọn thời gian và lý doanh nghiệp
- 4. Thống nhất mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa
- 5. Doanh nghiệp tăng/giảm từ 50 lao động trở lên mới phải thông báo biến động
- 6. Bổ sung trách nhiệm hoàn trả kinh phí hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng của doanh nghiệp
1. Doanh nghiệp được miễn tiền đóng BHTN của lao động khuyết tật trong 12 tháng đầu
Đây là quy định mới tại Điều 5 Nghị định 374/2025/NĐ-CP:
- Người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật thì được giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống 0% tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian người lao động làm việc nhưng thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới người lao động khuyết tật.
- Người sử dụng lao động đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động là người khuyết tật với cơ quan bảo hiểm xã hội để được thực hiện giảm đóng và kèm theo bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.
2. Thời hiệu khởi kiện khi doanh nghiệp không đóng đủ BHTN là 3 tháng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 374, trường hợp người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì người lao động có quyền khởi kiện người sử dụng lao động ra Tòa án có thẩm quyền trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc để yêu cầu giải quyết quyền lợi liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.
Đây là quy định mới hướng dẫn Luật Việc làm 2025. Trước đây Luật Việc làm 2013 và các văn bản hướng dẫn đều không quy định về vấn đề này.

3. Hướng dẫn về tiền lương làm văn cứ đóng BHTN với người làm việc không trọn thời gian và lý doanh nghiệp
Người làm việc không trọn thời gian và lý doanh nghiệp là những đối tượng mới phải tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 01/01/2026 theo quy định tại Điều 31 Luật Việc làm 2025.
Theo đó, khoản 3, 4 Điều 7 Nghị định 374 cũng đã kịp thời có những quy định mới hướng dẫn về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp với các đối tượng này. Cụ thể:
- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất là tiền lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
+ Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo giờ thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo giờ nhân với số giờ làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
+ Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo ngày thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo ngày nhân với số ngày làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
+ Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo tuần thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo tuần nhân với số tuần làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có hưởng tiền lương: Là tiền lương mà đối tượng này được hưởng theo quy định của pháp luật.
4. Thống nhất mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa
Tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 374, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
Quy định trên tương đồng với quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật Việc làm 2025 cùng có hiệu lực từ 01/01/2026, theo đó thống nhất mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa của tất cả đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Trong khi trước đây, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa được quy định tại Luật Việc làm 2013 được chia thành 2 trường hợp như sau:- Không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định;
- Không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
5. Doanh nghiệp tăng/giảm từ 50 lao động trở lên mới phải thông báo biến động
Trước đây, khoản 6 Điều 32 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đặt trụ sở làm việc của người sử dụng lao động khi có bất cứ biến động nào về lao động làm việc tại đơn vị.
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 10 Điều 32 Nghị định 374, trường hợp người sử dụng lao động tăng hoặc giảm từ 50 lao động trở lên thì mới phải thông báo về tình hình biến động lao động theo Mẫu số 33 ban hành kèm theo Nghị định này với tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đặt trụ sở làm việc để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.
6. Bổ sung trách nhiệm hoàn trả kinh phí hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng trong một số trường hợp
Đây là quy định hoàn toàn mới chưa được nêu tại Nghị định 28/2015/NĐ-CP về bảo hiểm thất nghiệp và các văn bản liên quan.
Cụ thể, theo Điều 5 Nghị định 374, người sử dụng lao động sẽ phải hoàn trả toàn bộ kinh phí hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề đối với người lao động đó nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Sau khi được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề người lao động không được bố trí và duy trì việc làm theo phương án đã được phê duyệt.
- Trường hợp người lao động đang tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề mà chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hoàn trả bao gồm:- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với người lao động theo quy định của Luật Viên chức.
- Người lao động bị sa thải theo quy định Bộ luật Lao động.
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm đ, e khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc quy định tại khoản 4 và điểm d, đ, e khoản 5 Điều 29 của Luật Viên chức.
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc không đúng quy định của Luật Viên chức.
Trên đây là một số Điểm mới Nghị định 374/2025/NĐ-CP về bảo hiểm thất nghiệp.
RSS