
Theo khoản 1 Điều 21 Thông tư 50/2026/TT-BQP quy định về chính sách xếp lương, phong, thăng quân hàm, nâng lương như sau:
Đối tượng thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam diện cơ quan cán bộ quản lý
- Đối tượng chưa tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và không là cán bộ, công chức, viên chức được xem xét:
-
Phong quân hàm sĩ quan cấp Thượng úy nếu là sinh viên tốt nghiệp đại học hạng xuất sắc;
-
Phong quân hàm sĩ quan cấp Đại úy nếu có trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, dược sĩ chuyên khoa cấp I;
-
Phong quân hàm sĩ quan cấp Thiếu tá nếu có trình độ tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II, dược sĩ chuyên khoa cấp II;
- Đối với người được thu hút vào biên chế trong Quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ, công chức, viên chức hoặc đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc:
-
Được xem xét xếp lương và phong quân hàm sĩ quan trên cơ sở: Trình độ đào tạo; mức lương hiện hưởng; thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
-
Mức xếp lương và phong quân hàm sĩ quan phải bảo đảm cao hơn ít nhất 02 bậc so với người có cùng: Trình độ đào tạo; mức lương hiện hưởng; thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng không thuộc diện được áp dụng chính sách thu hút.
Trường hợp sau khi xem xét xếp lương và phong quân hàm sĩ quan mà mức quân hàm được xác định thấp hơn mức áp dụng đối với người chưa tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và không là cán bộ, công chức, viên chức thì được áp dụng mức quân hàm tối thiểu tương ứng với trình độ đào tạo, cụ thể:
-
Thượng úy: đối với người tốt nghiệp đại học hạng xuất sắc;
-
Đại úy: đối với người có trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, dược sĩ chuyên khoa cấp I;
-
Thiếu tá: đối với người có trình độ tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II, dược sĩ chuyên khoa cấp II.
RSS