
Theo đó, tại Phụ lục phân công nhiệm vụ triển khai ban hành kèm theo Quyết định 1413/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu, xây dựng Luật về tài sản số, tài sản mã hóa. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện. Thời hạn hoàn thành hoặc trình cấp có thẩm quyền được xác định trong giai đoạn 2028 - 2029.
Về định hướng xây dựng pháp luật, Quyết định 1413/QĐ-TTg yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý theo mô hình phân loại tài sản số, trong đó nghiên cứu ban hành Luật Tài sản số theo hướng phân loại rõ các nhóm tài sản mã hóa. Việc phân loại nhằm tạo cơ sở áp dụng cơ chế quản lý phù hợp với bản chất của từng loại tài sản.
Ba nhóm tài sản mã hóa được định hướng phân loại gồm:
- Tài sản mã hóa phục vụ thanh toán;
- Mã thông báo tiện ích – Utility Tokens;
- Mã thông báo chứng khoán hoặc tài sản thực số hóa – Security Tokens/RWA.
Bên cạnh việc xây dựng Luật, Đề án còn đặt ra nhiệm vụ triển khai và vận hành thí điểm thị trường tài sản mã hóa và chủ động đánh giá kết quả thí điểm để nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý đối với tài sản số, tài sản mã hóa và sàn giao dịch tài sản số có giấy phép.
Lộ trình phát triển thị trường được định hướng bắt đầu từ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát – sandbox, sau đó từng bước mở rộng sang chứng khoán số hóa, token hóa tài sản thực, trái phiếu số hóa, quỹ đầu tư số hóa cùng các dịch vụ lưu ký, thanh toán trên nền tảng công nghệ sổ cái phân tán.
Theo Quyết định 1413/QĐ-TTg, việc vận hành thị trường tài sản mã hóa phải gắn với yêu cầu cao về năng lực tài chính, công nghệ và tính tuân thủ, hướng tới hình thành thị trường minh bạch, phù hợp với chuẩn mực quốc tế sau quá trình thí điểm.
RSS