
Đây là nội dung đáng chú ý đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
Theo điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC, người nộp thuế có thể thuộc diện giám sát trọng điểm người nộp thuế thuộc mức không tuân thủ pháp luật thuế theo 04 mức độ được quy định tại Điều 10 Thông tư 94/2026/TT-BTC.
Bên cạnh đó, người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin hoặc có giải trình, bổ sung thông tin nhưng không đầy đủ theo yêu cầu, thời hạn tại thông báo bằng văn bản của cơ quan thuế có thể bị giám sát trọng điểm.
Như vậy, việc không phản hồi hoặc phản hồi không đầy đủ yêu cầu giải trình của cơ quan thuế có thể là một trong những căn cứ để người nộp thuế bị đưa vào diện giám sát trọng điểm. Quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm phối hợp của người nộp thuế khi cơ quan thuế phát hiện dấu hiệu rủi ro trong quá trình quản lý.
Theo khoản 12 Điều 3 Thông tư 94/2026/TT-BTC, giám sát trọng điểm là việc cơ quan thuế áp dụng biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế để theo dõi, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro cao hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế trong một khoảng thời gian nhất định.
Ngoài trường hợp không giải trình hoặc giải trình không đầy đủ, Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC còn quy định các trường hợp khác thuộc diện giám sát trọng điểm, như:
- Người nộp thuế có giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ liên quan đến trốn thuế, gian lận thuế;
- Người nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp thuế bị khởi tố về hành vi vi phạm pháp luật về thuế, hóa đơn, chứng từ;
- Người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro cao về thuế thuộc chuyên đề trọng điểm hoặc qua thu thập thông tin từ công tác quản lý của cơ quan thuế cần giám sát để quản lý.
Thông tư 94/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Thông tư 31/2021/TT-BTC.
RSS