Phương pháp xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ 01/11/2025

Thông tư 21/2025/TT-NHNN đưa ra phương pháp xếp hạng các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành ngày 31/7/2025 và chính thức áp dụng từ 01/11/2025.

Thông tư 21/2025/TT-NHNN quy định về việc xếp hạng tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. 

Nguyên tắc và phương pháp xếp hạng được quy định tại Điều 4 của Thông tư 21/2025/TT-NHNN. Theo đó, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được chia thành các nhóm đồng hạng như sau:

- Nhóm 1: Ngân hàng thương mại có quy mô lớn (tổng giá trị tài sản bình quân theo quý trong năm xếp hạng trên 300.000 tỷ đồng).

- Nhóm 2: Ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ (tổng giá trị tài sản bình quân theo quý trong năm xếp hạng bằng hoặc thấp hơn 300.000 tỷ đồng).

- Nhóm 3: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

- Nhóm 4: Công ty tài chính (bao gồm công ty tài chính tổng hợp, công ty tài chính bao thanh toán, công ty tài chính tín dụng tiêu dùng).

- Nhóm 5: Công ty cho thuê tài chính.

- Nhóm 6: Ngân hàng hợp tác xã.

Phương pháp xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ 01/11/2025
Phương pháp xếp hạng tổ chức tín dụng từ 01/11/2025 (Ảnh minh họa)

Việc xếp hạng được thực hiện dựa trên hệ thống tiêu chí bao gồm nhóm chỉ tiêu định lượng và nhóm chỉ tiêu định tính.

- Nhóm chỉ tiêu định lượng đo lường mức độ lành mạnh hoạt động ngân hàng dựa trên số liệu hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

- Nhóm chỉ tiêu định tính đo lường mức độ tuân thủ các quy định pháp luật và chỉ đạo điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Trọng số của từng chỉ tiêu trong mỗi nhóm đồng hạng được xác định dựa trên tầm quan trọng của từng nhóm chỉ tiêu và yêu cầu của công tác thanh tra, giám sát.

Dựa trên mức điểm xếp hạng đạt được, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được xếp vào một trong các hạng sau:

  • Tốt (A)
  • Khá (B)
  • Trung bình (C)
  • Yếu (D)
  • Yếu kém (E)
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Công văn 105/HCTP-HT: Người đã phẫu thuật thay đổi ngoại hình được xem xét đổi tên nếu có căn cứ hợp lý

Công văn 105/HCTP-HT: Người đã phẫu thuật thay đổi ngoại hình được xem xét đổi tên nếu có căn cứ hợp lý

Công văn 105/HCTP-HT: Người đã phẫu thuật thay đổi ngoại hình được xem xét đổi tên nếu có căn cứ hợp lý

Công văn 105/HCTP-HT ngày 14/01/2026 của Cục Hành chính tư pháp (Bộ Tư pháp) đã làm rõ hướng xử lý đối với trường hợp công dân đề nghị thay đổi chữ đệm, tên sau khi can thiệp phẫu thuật thay đổi ngoại hình.

Nghị quyết 75/NQ-CP: 100% vi phạm PCCC phải bị xử lý, siết chặt trách nhiệm người đứng đầu

Nghị quyết 75/NQ-CP: 100% vi phạm PCCC phải bị xử lý, siết chặt trách nhiệm người đứng đầu

Nghị quyết 75/NQ-CP: 100% vi phạm PCCC phải bị xử lý, siết chặt trách nhiệm người đứng đầu

Nghị quyết 75/NQ-CP về chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 02-CT/TW về tăng cường lãnh đạo Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) được ban hành ngày 31/3/2026.

Đến năm 2030, thu hút 2.030 chuyên gia quốc tế và Việt kiều vào giáo dục Việt Nam

Đến năm 2030, thu hút 2.030 chuyên gia quốc tế và Việt kiều vào giáo dục Việt Nam

Đến năm 2030, thu hút 2.030 chuyên gia quốc tế và Việt kiều vào giáo dục Việt Nam

Ngày 31/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Từ 12/5/2026, khung năng lực số của giáo viên gồm 6 miền năng lực với 20 năng lực thành phần

Từ 12/5/2026, khung năng lực số của giáo viên gồm 6 miền năng lực với 20 năng lực thành phần

Từ 12/5/2026, khung năng lực số của giáo viên gồm 6 miền năng lực với 20 năng lực thành phần

Từ 12/5/2026, theo Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành Khung năng lực số đối với giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.