Đến 2025, Hà Nội sẽ xây hơn 1 triệu m2 sàn nhà ở xã hội

Ủy ban nhân dân (UBND) TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định 5019/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2021 - 2025.

Theo đó, tỷ lệ các loại nhà ở cần đầu tư xây dựng trong các dự án tại các khu vực có khả năng bố trí nhà ở xã hội theo quy hoạch là 90% nhà ở chung cư; 10% là nhà ở riêng lẻ. Tỷ lệ diện tích sàn nhà ở để cho thuê trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phải đạt tối thiểu 30% tổng diện tích sàn tại dự án.

UBND Thành phố cũng xác định cụ thể diện tích sàn nhà ở của các phân khúc hằng năm giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn như sau:

- Năm 2021: Phát triển tổng cộng 5.267.000 m2 sàn nhà ở, trong đó có 88.000 m2 sàn nhà ở xã hội; 106.000 m2 sàn nhà tái định cư; 573.000 m2 sàn nhà ở thương mại; 4.500.000 m2 nhà ở riêng lẻ.

- Năm 2022: Phát triển 8.419.000m2 sàn nhà ở, trong đó, có 241.000 m2 sàn nhà ở xã hội; 152.000 m2 sàn nhà ở tái định cư; 3.526.000m2 sàn nhà ở thương mại; 4.500.000 m2 sàn nhà ở riêng lẻ.

- Năm 2023: Phát triển 9.514.000 m2 sàn nhà ở, trong đó có 192.000m2 sàn nhà ở xã hội; 88.000 m2 sàn nhà ở tái định cư; 4.734.000 m2 sàn nhà ở thương mại; 4.500.000 m2 sàn nhà ở riêng lẻ.

Kế hoạch phát triển nhà ở TP. Hà NộiKế hoạch phát triển nhà ở TP. Hà Nội giai đoạn 2021 - 2025 (Ảnh minh họa)


- Năm 2024: Phát triển 9.696.000 m2 sàn nhà ở, trong đó có 239.000 m2 sàn nhà ở xã hội; 92.000 m2 sàn nhà ở tái định cư; 4.865.000 m2 sàn nhà ở thương mại; 4.500.000 m2 sàn nhà ở riêng lẻ.

- Năm 2025: Phát triển 11.104.000 m2 sàn nhà ở, trong đó có 409.000 m2 sàn nhà ở xã hội; 122.000 m2 sàn nhà ở tái định cư; 5.992.000 m2 sàn nhà ở thương mại; 4.500.000 m2 sàn nhà ở riêng lẻ.

Tổng diện tích sàn nhà ở phát triển giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 44 triệu mét vuông; diện tích nhà ở bình quân đầu người toàn thành phố đạt 29,5 m2 sàn/người, trong đó riêng diện tích sàn nhà ở xã hội đến năm 2025 là hơn 01 triệu m2.

Để thực hiện kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2021 - 2025, UBND Thành phố dự kiến nhu cầu vốn là khoảng 437.000 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách khoảng 5.800,8 tỷ đồng đầu tư xây dựng nhà ở tái định cư, phát triển nhà ở xã hội và phục vụ công tác cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ.

Độc giả có thắc mắc liên quan vui lòng liên hệ 1900.6192 để LuatVietnam hỗ trợ, giải đáp.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Không nộp hoặc nộp thiếu báo cáo thống kê phải nộp bổ sung đầy đủ từ ngày 02/11/2026

Không nộp hoặc nộp thiếu báo cáo thống kê phải nộp bổ sung đầy đủ từ ngày 02/11/2026

Không nộp hoặc nộp thiếu báo cáo thống kê phải nộp bổ sung đầy đủ từ ngày 02/11/2026

Từ ngày 02/11/2026, theo Nghị định 362/2026/NĐ-CP cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về thời hạn hoặc tính đầy đủ của báo cáo thống kê không chỉ bị cảnh cáo, phạt tiền mà còn phải nộp bổ sung đầy đủ báo cáo theo yêu cầu.

​Từ 17/9/2026, vốn đầu tư để thành lập trường đại học tư thục giảm còn tối thiểu 300 tỷ đồng

​Từ 17/9/2026, vốn đầu tư để thành lập trường đại học tư thục giảm còn tối thiểu 300 tỷ đồng

​Từ 17/9/2026, vốn đầu tư để thành lập trường đại học tư thục giảm còn tối thiểu 300 tỷ đồng

Đây là quy định mới tại Nghị định 361/2026/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện đầu tư và hoạt động trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục, ban hành và hiệu lực ngày 17/9/2026.

Nghị định 360 2026 CP: Trường có tên “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam” gây hiểu nhầm phải đổi tên trong 12 tháng

Nghị định 360 2026 CP: Trường có tên “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam” gây hiểu nhầm phải đổi tên trong 12 tháng

Nghị định 360 2026 CP: Trường có tên “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam” gây hiểu nhầm phải đổi tên trong 12 tháng

Quy định nêu tại Nghị định 360/2026/NĐ-CP về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

​Phụ cấp chức vụ mới thấp hơn mức đang hưởng, cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu mức cũ (dự kiến)

​Phụ cấp chức vụ mới thấp hơn mức đang hưởng, cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu mức cũ (dự kiến)

​Phụ cấp chức vụ mới thấp hơn mức đang hưởng, cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu mức cũ (dự kiến)

Một trong những nội dung đặc biệt được quan tâm tại Dự thảo Nghị định quy định chế độ phụ cấp chức vụ đối với cán bộ quản lý cơ sở giáo dục là cách xử lý khi hệ số phụ cấp mới thấp hơn mức cán bộ quản lý đang hưởng.

Đề xuất: Hệ số phụ cấp chức vụ của Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học là 0,5

Đề xuất: Hệ số phụ cấp chức vụ của Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học là 0,5

Đề xuất: Hệ số phụ cấp chức vụ của Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học là 0,5

Dự thảo Nghị định quy định chế độ phụ cấp chức vụ đối với cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đã đề xuất mức phụ cấp cụ thể đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và cán bộ quản lý tổ chuyên môn tại trường mầm non, tiểu học. 

3 chức danh không chuyên trách dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố được giải quyết chính sách theo Nghị định 154

3 chức danh không chuyên trách dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố được giải quyết chính sách theo Nghị định 154

3 chức danh không chuyên trách dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố được giải quyết chính sách theo Nghị định 154

Ngày 26/8/2026, Bộ Nội vụ ban hành Công văn 9458/BNV-TCBC hướng dẫn Sở Nội vụ TP HCM thực hiện chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ danh tính hoặc trù dập người tố cáo

Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ danh tính hoặc trù dập người tố cáo

Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ danh tính hoặc trù dập người tố cáo

Từ ngày 15/10/2026, theo Thông tư 06/2026/TT-TTCP, cán bộ thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ trái pháp luật danh tính người tố cáo; không được đe dọa, trả thù hoặc trù dập người khiếu nại, tố cáo.