Hạn cuối gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế là 30/7/2021

Nội dung này được Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể tại Công văn số 1495/TCT-KK ngày 13/5/2021 triển khai Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất 2021.

Theo đó, thời hạn của Giấy đề nghị gia hạn chậm nhất là ngày 30/7/2021. Thời hạn này áp dụng với trường hợp Giấy đề nghị gia hạn không nộp cùng thời điểm người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế tháng (hoặc quý).

Đây cũng là thời hạn cuối cùng để người nộp thuế gửi Giấy đề nghị gia hạn thay thế trong trường hợp giấy cũ đã nộp có sai sót.

Hạn cuối gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế năm 2021
Hạn cuối gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế là 30/7/2021 (Ảnh minh họa)

Theo đó, Tổng cục Thuế nâng cấp các ứng dụng Thuế điện tử để hỗ trợ người nộp thuế lập và gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế, nộp tiền thuê đất năm 2021 bằng phương thức điện tử.

Với người nộp thuế là hộ gia đình, cá nhân chưa có tài khoản giao dịch điện tử về thuế, cơ quan thuế cũng phải hướng dẫn người nộp thuế đăng ký tài khoản trên Cổng dịch vụ công quốc gia và gửi Giấy đề nghị gia hạn qua Cổng dịch vụ công quốc gia sau khi có thông báo nâng cấp của Tổng cục Thuế.

Trong trường hợp người nộp thuế không thể thực hiện gửi Giấy này theo phương thức điện tử thì cơ quan thuế phải hướng dẫn người nộp thuế gửi qua đường bưu chính hoặc nộp trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế.

Đặc biệt, nếu hộ, cá nhân kinh doanh có nhiều địa điểm kinh doanh do cùng một cơ quan thuế quản lý trực tiếp thì chỉ gửi một (01) Giấy đề nghị gia hạn đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp các địa điểm kinh doanh đó.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Công văn 8886 Bội Nội vụ: Phải thống kê người đủ và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức tại thời điểm ngày 10/8/2026

Công văn 8886 Bội Nội vụ: Phải thống kê người đủ và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức tại thời điểm ngày 10/8/2026

Công văn 8886 Bội Nội vụ: Phải thống kê người đủ và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức tại thời điểm ngày 10/8/2026

Một trong những nội dung đáng chú ý tại Công văn 8886/BNV-TCBC của Bộ Nội vụ là yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương thống kê số viên chức, người làm việc đủ điều kiện và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức.

Từ 14/8/2026, phí kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên là 2,7 triệu đồng/hồ sơ

Từ 14/8/2026, phí kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên là 2,7 triệu đồng/hồ sơ

Từ 14/8/2026, phí kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên là 2,7 triệu đồng/hồ sơ

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 116/2026/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề Thừa hành viên ban hành ngày 13/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 14/8/2026.

Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã không áp dụng chế định vị trí việc làm của công chức

Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã không áp dụng chế định vị trí việc làm của công chức

Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã không áp dụng chế định vị trí việc làm của công chức

Công văn 8712/BNV-CCVC ngày 10/8/2026 đã làm rõ việc xếp lương đối với Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng ban và Phó trưởng Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã.

Quyết định 1810 BTP: Chấp hành viên không được để người thân lợi dụng danh nghĩa để vụ lợi

Quyết định 1810 BTP: Chấp hành viên không được để người thân lợi dụng danh nghĩa để vụ lợi

Quyết định 1810 BTP: Chấp hành viên không được để người thân lợi dụng danh nghĩa để vụ lợi

Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định 1810/QĐ-BTP ngày 03/8/2026 đã đặt ra yêu cầu ứng xử đối với Chấp hành viên, Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án tại nơi cư trú, trong gia đình và nơi công cộng.

Giao dịch trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử

Giao dịch trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử

Giao dịch trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử

Từ ngày 25/9/2026, theo Nghị định 314/2026/NĐ-CP giao dịch mua bán, trao đổi sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử. Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được cả Bên bán và Bên mua chấp thuận bằng phương thức điện tử hợp lệ.