Công chức ngành Kiểm sát có thể bị tạm đình chỉ công tác trong 7 trường hợp

Từ 30/7/2026, Quyết định 15/QĐ-VKSTC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế về cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm, tạm đình chỉ công tác đối với công chức trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Theo Điều 12 Quy chế ban hành kèm Quyết định 15/QĐ-VKSTC, công chức trong ngành Kiểm sát nhân dân có thể bị tạm đình chỉ công tác khi thuộc một trong 07 trường hợp:

- Có hành vi vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống gây ảnh hưởng tiêu cực, bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín tổ chức, cá nhân;

- Có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực thi công vụ;

- Cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

- Đang bị xem xét, xử lý kỷ luật mà cố ý không thực hiện yêu cầu của cấp có thẩm quyền trong quá trình xem xét, xử lý vi phạm của bản thân hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình, của người khác để tác động, gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý hoặc nếu để tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật;

- Đã bị xử lý kỷ luật đảng bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức và đang trong thời gian chờ xem xét, xử lý chức vụ chính quyền mà nếu tiếp tục công tác sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của cơ quan, đơn vị;

- Có văn bản đề nghị tạm đình chỉ công tác của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc của cơ quan khác có thẩm quyền;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật hoặc theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.

Công chức ngành Kiểm sát có thể bị tạm đình chỉ công tác trong 7 trường hợp
Công chức ngành Kiểm sát có thể bị tạm đình chỉ công tác trong 7 trường hợp (Ảnh minh họa)

Về thời hạn tạm đình chỉ, khoản 2 Điều 12 quy định thời gian tạm đình chỉ công tác không quá 30 ngày làm việc; trường hợp vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày làm việc nữa. Riêng trường hợp tạm đình chỉ theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền thì thời hạn thực hiện theo nội dung đề nghị của cơ quan đó. Khi hết thời hạn tạm đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ đương nhiên hết hiệu lực.

Quy chế cũng quy định cụ thể về quy trình thực hiện. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi xác định có căn cứ tạm đình chỉ, cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ phải báo cáo, đề xuất người đứng đầu ra quyết định; đồng thời người đứng đầu cũng phải ban hành quyết định trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề xuất.

Trường hợp xác định việc tạm đình chỉ không đúng quy định hoặc công chức không vi phạm thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, người đứng đầu phải hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý công chức.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Chỉ cho phép người nước ngoài sở hữu căn hộ chung cư tại Việt Nam (dự kiến)

Chỉ cho phép người nước ngoài sở hữu căn hộ chung cư tại Việt Nam (dự kiến)

Chỉ cho phép người nước ngoài sở hữu căn hộ chung cư tại Việt Nam (dự kiến)

Dự thảo Luật Nhà ở đề xuất thu hẹp loại nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tại Việt Nam, theo hướng chỉ cho phép sở hữu căn hộ chung cư, không còn bao gồm nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở như hiện hành.

Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi Nghị định 66/2025/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn

Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi Nghị định 66/2025/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn

Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi Nghị định 66/2025/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn

Ngày 08/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn 9122/VPCP-KGVX về việc thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng chính sách.

​Công tác chính trị, tư tưởng được ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhưng phải an toàn, có kiểm soát

​Công tác chính trị, tư tưởng được ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhưng phải an toàn, có kiểm soát

​Công tác chính trị, tư tưởng được ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhưng phải an toàn, có kiểm soát

Quy định 19-QĐ/TW cho phép tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số trong công tác chính trị, tư tưởng; Hướng dẫn 03-HD/BTGTW yêu cầu việc ứng dụng phải an toàn, bảo mật, chính xác và có kiểm soát.