Chính thức: Hàng hóa mua vào từ 5 triệu phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng.

Theo quy định tại Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP.

Hàng hóa mua vào từ 05 triệu đồng phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Hàng hóa mua vào từ 5 triệu phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (Ảnh minh họa)

Một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng bao gồm: 

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng.

Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua bên thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay, cho mượn sang tài khoản của bên đi vay, đi mượn đối với khoản vay, mượn bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà bên bán hỗ trợ cho bên mua, hoặc nhờ bên mua chi hộ.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán không dùng tiền mặt (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cấu bên mua thanh toán không dùng tiền mặt cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một tổ chức hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng cổ phiếu, trái phiếu mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng mua bán dưới hình thức văn bản được lập trước đó.

- Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán không dùng tiền mặt vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào xác định tương ứng với số tiền chuyển vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước.

- Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.

- Trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 05 triệu đồng theo giá đã có thuế giá trị gia tăng và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng, hàng mẫu không phải trả tiền của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thì không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Lưu ý: Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một người nộp thuế có giá trị dưới 05 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Tham gia Group Zalo của LuatVietnam để cập nhật nhanh nhất các văn bản pháp luật về thuế - kế toán.
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(2 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Bộ Y tế: Bệnh viện không được thu thêm tiền của người bệnh BHYT nếu không khám theo yêu cầu

Bộ Y tế: Bệnh viện không được thu thêm tiền của người bệnh BHYT nếu không khám theo yêu cầu

Bộ Y tế: Bệnh viện không được thu thêm tiền của người bệnh BHYT nếu không khám theo yêu cầu

Công văn 5766/BYT-BH ngày 03/8/2026 của Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế thực hiện nghiêm quy định nhằm bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT).

Trước 10/8/2026, phải hoàn thành đề nghị xét tặng Huy hiệu từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 02/9

Trước 10/8/2026, phải hoàn thành đề nghị xét tặng Huy hiệu từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 02/9

Trước 10/8/2026, phải hoàn thành đề nghị xét tặng Huy hiệu từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 02/9

Kết luận 78-KL/TW ngày 28/7/2026 yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương hoàn thành việc rà soát, tổng hợp, thẩm định và gửi hồ sơ đề nghị xét tặng Huy hiệu từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 02/9/2026 về Ban Tổ chức Trung ương trước ngày 10/8/2026.

Kết thúc hiệu lực Quy định 05-QĐi/TW, người vi phạm chính sách dân số được xem xét kết nạp Đảng theo quy định hiện hành

Kết thúc hiệu lực Quy định 05-QĐi/TW, người vi phạm chính sách dân số được xem xét kết nạp Đảng theo quy định hiện hành

Kết thúc hiệu lực Quy định 05-QĐi/TW, người vi phạm chính sách dân số được xem xét kết nạp Đảng theo quy định hiện hành

Kết luận 78-KL/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chính thức kết thúc hiệu lực Quy định 05-QĐi/TW năm 2018 về kết nạp người vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình vào Đảng.

Yêu cầu hoàn thiện chính sách về quốc tịch, nhà ở và đầu tư đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Yêu cầu hoàn thiện chính sách về quốc tịch, nhà ở và đầu tư đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Yêu cầu hoàn thiện chính sách về quốc tịch, nhà ở và đầu tư đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Ngày 02/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Bộ GDĐT sẽ hướng dẫn thống nhất việc quản trị và phân cấp quản lý cơ sở giáo dục sau sắp xếp

Bộ GDĐT sẽ hướng dẫn thống nhất việc quản trị và phân cấp quản lý cơ sở giáo dục sau sắp xếp

Bộ GDĐT sẽ hướng dẫn thống nhất việc quản trị và phân cấp quản lý cơ sở giáo dục sau sắp xếp

Thông báo 408/TB-VPCP ngày 29/7/2026 đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT) ban hành ngay các hướng dẫn về phương thức quản trị, quy mô cơ sở giáo dục cũng như phân định rõ trách nhiệm quản lý của từng cấp chính quyền.

Nghị quyết 23-NQ/TW: Người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước

Nghị quyết 23-NQ/TW: Người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước

Nghị quyết 23-NQ/TW: Người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước

Ngày 02/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 và các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.