Đáng chú ý, Nghị định xác định 15 nhóm ngành trọng điểm được ưu tiên hỗ trợ nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong giai đoạn mới. Chính sách được áp dụng đối với đối tượng tuyển sinh từ năm 2025 trở đi, thời điểm cấp học bổng tính từ ngày 01/9/2026.

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 179/2026/NĐ-CP, chương trình đào tạo được hưởng chính sách học bổng là các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược thuộc các nhóm ngành quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định. Danh mục này bao gồm:
- Sinh học;
- Sinh học ứng dụng;
- Khoa học vật chất;
- Khoa học trái đất;
- Toán học;
- Thống kê;
- Máy tính;
- Công nghệ thông tin;
- Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật;
- Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông;
- Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường;
- Vật lý kỹ thuật;
- Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa;
- Kỹ thuật mỏ;
- Xây dựng.
Ngoài các nhóm ngành nêu trên, khoản 2 Điều 3 Nghị định 179/2026/NĐ-CP còn quy định chương trình đào tạo tài năng và chương trình đào tạo về vi mạch bán dẫn thuộc các nhóm ngành nêu trên do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách học bổng.
Tùy từng trình độ đào tạo và nhóm ngành, mức học bổng được quy định khác nhau theo Điều 6 Nghị định 179/2026/NĐ-CP. Cụ thể, sinh viên đại học có thể nhận mức hỗ trợ từ 3,7 - 5,5 triệu đồng/tháng; học viên cao học được hỗ trợ từ 5,5 - 7,4 triệu đồng/tháng; nghiên cứu sinh tiến sĩ được hưởng từ 7,4 - 8,4 triệu đồng/tháng.
Theo Điều 16 Nghị định 179/2026/NĐ-CP, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026 nhưng chính sách học bổng sẽ áp dụng đối với người học thuộc diện tuyển sinh từ năm 2025 trở đi và bắt đầu thực hiện chi trả từ ngày 01/9/2026.
RSS