Cụ thể, khoản 5 Điều 6 Nghị định 319 năm 2026 (hiệu lực 01/7/2027) quy định dữ liệu từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ được sử dụng làm căn cứ để:
- Xử lý hành vi vi phạm pháp luật;
- Xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông đường bộ;
- Xử lý vi phạm về vận tải đường bộ;
- Phục vụ công tác quản lý nhà nước;
- Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông và vận tải đường bộ.
Để phục vụ việc quản lý và xử lý vi phạm, dữ liệu từ thiết bị giám sát được truyền về hệ thống của Cục Cảnh sát giao thông.

Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 319 2026 NĐ CP, dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình phải được truyền về máy chủ dịch vụ, sau đó truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian thực.
Đối với hình ảnh người lái xe và khoang chở khách, dữ liệu được truyền theo thời gian thực gồm:
- Hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe;
- Hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe;
- Hành vi vi phạm pháp luật của người trong khoang chở khách.
Khoản 4 Điều 6 yêu cầu việc truyền, lưu trữ, khai thác, chia sẻ và xử lý dữ liệu phải tuân thủ pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật có liên quan.
Dữ liệu không được sử dụng để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 11 Nghị định 319 yêu cầu đơn vị kinh doanh vận tải, chủ phương tiện, đơn vị cung cấp máy chủ dịch vụ và người lái xe phải bảo đảm tính khách quan, chính xác, kịp thời của dữ liệu; không được sửa chữa hoặc làm sai lệch dữ liệu.
Theo khoản 1 Điều 13, thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe đã lắp trước ngày 01/7/2027 được tiếp tục sử dụng, thu, lưu trữ và truyền dữ liệu theo quy chuẩn, quy định cũ đến hết ngày 31/12/2029.
RSS