Nghị định 319/2026/NĐ-CP quy định việc lắp đặt thiết bị giám sát đối với nhiều loại phương tiện, trong đó có xe vận tải nội bộ. Vậy xe vận tải nội bộ có phải lắp thiết bị giám sát hành trình và camera người lái xe không?
1. Xe vận tải nội bộ có phải lắp thiết bị giám sát hành trình và camera người lái xe không?
Xe vận tải nội bộ thuộc diện phải lắp thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, thời điểm áp dụng yêu cầu lắp đặt đối với từng loại thiết bị không hoàn toàn giống nhau.
Khoản 2 Điều 35 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 6 Điều 7 Luật số 118/2025/QH15, quy định:
“Xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa, xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô đầu kéo, xe cứu thương, xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe.”
Đồng thời, Điều 4 Nghị định 319/2026/NĐ-CP quy định xe vận tải nội bộ thuộc nhóm phương tiện phải lắp thiết bị giám sát và phải bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật theo Nghị định cùng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Theo đó, đối với xe vận tải nội bộ, hai loại thiết bị được yêu cầu gồm:
- Thiết bị giám sát hành trình: Ghi nhận dữ liệu về hành trình xe chạy, tốc độ vận hành, số lần và thời gian dừng xe, đỗ xe, thời gian lái xe liên tục theo điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định 319/2026/NĐ-CP.
- Thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe: Ghi nhận liên tục hình ảnh người lái xe trong mọi điều kiện ánh sáng theo điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 319/2026/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 4 Nghị định 319/2026/NĐ-CP cho phép tích hợp các chức năng giám sát trong một hoặc nhiều thiết bị lắp trên xe, với điều kiện đáp ứng đầy đủ chức năng và yêu cầu kỹ thuật theo quy định.

2. Những loại xe nào được xác định là xe vận tải nội bộ?
Để xác định phương tiện có thuộc diện phải lắp thiết bị giám sát dành cho xe vận tải nội bộ hay không, cần căn cứ vào tính chất hoạt động vận tải của phương tiện.
Theo khoản 12 Điều 56 Luật Đường bộ 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 118/2025/QH15, hoạt động vận tải nội bộ bằng xe ô tô, bằng xe bốn bánh có gắn động cơ là:
- Hoạt động vận tải không kinh doanh, không thu tiền cước
- Chi phí vận tải được tính vào chi phí quản lý, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ của người vận tải.
Hoạt động này bao gồm vận tải người nội bộ và vận tải hàng hóa nội bộ.
2.1. Xe ô tô vận tải người nội bộ
Theo điểm a khoản 12 Điều 56 Luật Đường bộ 2024 đã được sửa đổi, bổ sung, hoạt động vận tải người nội bộ là việc cơ quan, tổ chức sử dụng xe ô tô, xe bốn bánh có gắn động cơ để vận tải:
- Cán bộ, công nhân viên;
- Người lao động;
- Trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên của cơ quan, tổ chức đó.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định 158/2024/NĐ-CP quy định xe ô tô vận tải người nội bộ phải niêm yết cụm từ “XE NỘI BỘ” bằng vật liệu phản quang trên kính phía trước và kính phía sau xe, với kích thước tối thiểu 10 x 35 cm. Trường hợp niêm yết bằng thiết bị điện tử phải bảo đảm cụm từ này luôn được bật sáng và có kích thước tối thiểu tương ứng.
2.2. Xe ô tô vận tải hàng hóa nội bộ
Căn cứ theo điểm b khoản 12 Điều 56 Luật Đường bộ 2024 đã được sửa đổi, bổ sung, hoạt động vận tải hàng hóa nội bộ là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng xe ô tô chở hàng, xe ô tô chuyên dùng, xe bốn bánh có gắn động cơ để vận tải:
- Sản phẩm, hàng hóa do chính cơ quan, tổ chức, cá nhân đó sản xuất;
- Trang thiết bị, dụng cụ;
- Nguyên vật liệu, nhiên liệu phục vụ quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
Đối với xe ô tô vận tải hàng hóa nội bộ, điểm b khoản 1 Điều 25 Nghị định 158/2024/NĐ-CP quy định phải niêm yết cụm từ “XE NỘI BỘ” trên kính phía trước xe, với kích thước tối thiểu 10 x 35 cm theo quy định. Trường hợp niêm yết bằng thiết bị điện tử phải bảo đảm cụm từ “XE NỘI BỘ” luôn được bật sáng và có kích thước tối thiểu là 10 x 35 cm.
Như vậy, hoạt động vận tải nội bộ không chỉ bao gồm việc đưa đón người lao động, học sinh mà còn có hoạt động vận chuyển hàng hóa để phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo các điều kiện được pháp luật quy định.
3. Xe vận tải nội bộ phải lắp camera người lái xe từ ngày nào?
Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định 319/2026/NĐ-CP, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2027, trừ các quy định về lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh được thực hiện theo lộ trình riêng.
Đối với xe vận tải nội bộ, khoản 2 Điều 12 Nghị định 319/2026/NĐ-CP quy định việc lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe được thực hiện từ ngày 01/01/2028.
Như vậy, ngày 01/01/2028 là thời điểm bắt đầu thực hiện quy định bắt buộc lắp camera ghi nhận hình ảnh người lái xe đối với xe vận tải nội bộ theo Nghị định 319/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 319/2026/NĐ-CP, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe phải bảo đảm ghi nhận liên tục hình ảnh của người lái xe trong mọi điều kiện ánh sáng.
Ngoài ra, căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định này, chức năng ghi nhận hình ảnh người lái xe có thể được tích hợp trong một thiết bị có nhiều chức năng giám sát hoặc được bố trí thành thiết bị riêng, nhưng phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định.
Do đó, khi thực hiện yêu cầu lắp camera người lái xe từ ngày 01/01/2028, phương tiện vận tải nội bộ phải bảo đảm thiết bị có chức năng ghi nhận hình ảnh người lái xe theo Nghị định 319/2026/NĐ-CP và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Trên đây là thông tin về “Xe vận tải nội bộ có phải lắp thiết bị giám sát hành trình và camera người lái xe không?”. Bạn đọc có thể tham khảo thêm các quy định liên quan tại LuatVietnam.vn.
RSS