Trường đại học có được tự tiếp nhận tài trợ, viện trợ nghiên cứu từ nước ngoài không? Cùng tìm hiểu vấn đề này tại Nghị định 125/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học, có hiệu lực từ ngày 06/4/2026.
- 1. Trường đại học có được tự tiếp nhận tài trợ, viện trợ nghiên cứu từ nước ngoài không?
- 2. Ngoài tiếp nhận tài trợ nước ngoài, cơ sở giáo dục đại học còn được có các hoạt động hợp tác quốc tế nào?
- 3. Trường đại học được tiếp nhận những loại nguồn lực nào từ nước ngoài?
- 4. Trường đại học được sử dụng tiền tài trợ, viện trợ từ nước ngoài vào những hoạt động nào?
- 5. Trường đại học có phải báo cáo khi nhận tài trợ, viện trợ từ nước ngoài không?
1. Trường đại học có được tự tiếp nhận tài trợ, viện trợ nghiên cứu từ nước ngoài không?
Theo điểm c khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học được tự chủ và tự chịu trách nhiệm tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ, viện trợ, đặt hàng nghiên cứu phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ phía nước ngoài.
Như vậy, đối với nguồn tài trợ, viện trợ, đặt hàng nghiên cứu từ nước ngoài thuộc phạm vi hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị định ghi nhận cơ chế tự chủ tiếp nhận và sử dụng, thay vì quy định cơ sở giáo dục đại học phải xin chấp thuận trong mọi trường hợp.
Tuy nhiên, quyền tự chủ này không phải là không có giới hạn. Việc tiếp nhận và sử dụng nguồn tài trợ, viện trợ từ nước ngoài phải bảo đảm các yêu cầu theo điểm c khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP:
- Không phương hại đến an ninh quốc gia;
- Không phương hại đến an toàn;
- Không phương hại đến lợi ích quốc gia;
- Thực hiện báo cáo theo quy định pháp luật;
- Thực hiện công khai theo quy định pháp luật.

2. Ngoài tiếp nhận tài trợ nước ngoài, cơ sở giáo dục đại học còn được có các hoạt động hợp tác quốc tế nào?
Theo Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học được chủ động thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và không phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Ngoài việc tự chủ và tự chịu trách nhiệm tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ, viện trợ, đặt hàng nghiên cứu từ phía nước ngoài theo điểm c khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học còn được triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế theo điểm a, điểm đ khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cụ thể:
- Hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;
- Thành lập hoặc tham gia phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo chung theo quy định pháp luật;
- Tham gia các tổ chức, hiệp hội khu vực và quốc tế;
- Đề xuất thành lập, tham gia hoặc liên kết với tổ chức khoa học và công nghệ ngoài nước.
3. Trường đại học được tiếp nhận những loại nguồn lực nào từ nước ngoài?
Điểm c khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP đề cập trực tiếp đến ba nhóm nguồn lực từ phía nước ngoài mà cơ sở giáo dục đại học được quyền tiếp nhận, gồm:
- Tài trợ;
- Viện trợ;
- Đặt hàng nghiên cứu.
Các nguồn này phải phục vụ cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh quy định tại Điều 13, Nghị định còn xác định tài trợ, viện trợ là một trong những nguồn tài chính hợp pháp ngoài ngân sách cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ sở giáo dục đại học.
Đối với Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của trường đại học, nguồn hình thành Quỹ cũng có thể bao gồm tài trợ, viện trợ, hiến tặng, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
4. Trường đại học được sử dụng tiền tài trợ, viện trợ từ nước ngoài vào những hoạt động nào?
Theo khoản 3 Điều 18, cơ sở giáo dục đại học được chủ động huy động các nguồn vốn hợp pháp như:
- Vốn đối ứng;
- Hợp tác công tư;
- Tài trợ;
- Viện trợ;
- Nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Các nguồn này có thể được sử dụng để đầu tư phát triển:
- Phòng thí nghiệm;
- Vườn ươm công nghệ;
- Không gian đổi mới sáng tạo;
- Cơ sở dữ liệu;
- Hạ tầng số phục vụ nghiên cứu và đào tạo.
Ngoài ra, cơ sở giáo dục đại học còn được tham gia các chương trình đầu tư đồng tài trợ của Nhà nước hoặc tổ chức trong và ngoài nước nhằm phát triển phòng thí nghiệm hiện đại, nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu liên ngành và hạ tầng đổi mới sáng tạo.
Đối với hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, khoản 4 Điều 11 còn cho phép cơ sở giáo dục đại học sử dụng tài trợ của tổ chức, cá nhân để hỗ trợ:
- Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp;
- Ươm tạo công nghệ;
- Phát triển sản phẩm thử nghiệm;
- Thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
5. Trường đại học có phải báo cáo khi nhận tài trợ, viện trợ từ nước ngoài không?
Điểm c khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP yêu cầu cơ sở giáo dục đại học khi tiếp nhận, sử dụng tài trợ, viện trợ hoặc đặt hàng nghiên cứu từ nước ngoài phải thực hiện báo cáo, công khai theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Điều 21 Nghị định này còn quy định cơ sở giáo dục đại học phải báo cáo cơ quan quản lý trực tiếp và Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 30/11 hằng năm hoặc báo cáo đột xuất khi được yêu cầu.
Do đó, quyền tự chủ tiếp nhận tài trợ không đồng nghĩa với việc trường có thể tiếp nhận và sử dụng nguồn tiền mà không thực hiện nghĩa vụ quản lý, báo cáo và công khai.
Tóm lại, trường đại học được tự chủ, tự chịu trách nhiệm tiếp nhận và sử dụng tài trợ, viện trợ, đặt hàng nghiên cứu từ phía nước ngoài phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nguồn lực này phải được tiếp nhận, sử dụng trên cơ sở không phương hại đến an ninh, an toàn, lợi ích quốc gia và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo, công khai theo quy định pháp luật.
RSS