Hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học không chỉ giới hạn ở việc tài trợ một đề tài nghiên cứu. Theo Nghị định 125/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp có thể tham gia từ đặt hàng nghiên cứu, đồng tài trợ, đầu tư phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực đến khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Vậy doanh nghiệp hợp tác nghiên cứu khoa học với trường đại học được thực hiện những hoạt động gì?
- 1. Doanh nghiệp hợp tác nghiên cứu khoa học với trường đại học được thực hiện những hoạt động gì?
- 2. Doanh nghiệp có thể sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để hợp tác với trường đại học như thế nào?
- 2.1. Chi cho nhân lực tham gia hoạt động hợp tác
- 2.2. Chi cho nghiên cứu, công nghệ và hạ tầng nghiên cứu
- 2.3. Tài trợ, góp vốn hoặc đồng tài trợ cho hoạt động đổi mới sáng tạo
- 3. Trường đại học có thể hợp tác với doanh nghiệp trong những lĩnh vực nào?
- 4. Doanh nghiệp có được khai thác kết quả nghiên cứu sau khi hợp tác với trường đại học không?
- 5. Nhà nước hỗ trợ hoạt động hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học như thế nào?
1. Doanh nghiệp hợp tác nghiên cứu khoa học với trường đại học được thực hiện những hoạt động gì?
Doanh nghiệp được tham gia nhiều hoạt động hợp tác với cơ sở giáo dục đại học, gồm đặt hàng nghiên cứu, đồng tài trợ, đồng đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm, tham gia đào tạo và nghiên cứu, tiếp nhận giảng viên và người học thực tập, sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ cho hoạt động hợp tác, khai thác kết quả nghiên cứu và đặt hàng nghiên cứu phục vụ các dự án ứng dụng công nghệ mới, công nghệ chiến lược.
Các nội dung này được quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 12 Nghị định 125/2026/NĐ-CP.
Cụ thể, doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động sau:
- Chủ động đặt hàng, đồng tài trợ, đồng đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm tại cơ sở giáo dục đại học và sử dụng kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ từ cơ sở giáo dục đại học;
- Tham gia vào quá trình đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của cơ sở giáo dục đại học thông qua việc cử chuyên gia, nhà khoa học tham gia xây dựng chương trình đào tạo, giảng dạy, hướng dẫn và hợp tác nghiên cứu;
- Tiếp nhận giảng viên, người học, nhà khoa học đến thực tập, nghiên cứu, làm việc trong môi trường sản xuất, kinh doanh;
- Được khuyến khích sử dụng đến 30% kinh phí từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chi cho các hoạt động hợp tác với cơ sở giáo dục đại học;
- Khai thác, ứng dụng kết quả hợp tác nghiên cứu để phát triển sản phẩm, dịch vụ, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và được chia sẻ lợi ích theo thỏa thuận hợp tác;
- Đối với dự án ứng dụng công nghệ mới, công nghệ chiến lược, doanh nghiệp bố trí một phần kinh phí phù hợp trong tổng mức đầu tư để đặt hàng, giao nhiệm vụ cho cơ sở giáo dục đại học nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trực tiếp phục vụ dự án.
Như vậy, phạm vi hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học khá rộng. Doanh nghiệp không chỉ là bên cung cấp kinh phí mà còn có thể trực tiếp đặt hàng nghiên cứu, đưa chuyên gia tham gia đào tạo, tiếp nhận nhân lực từ trường, cùng đầu tư hạ tầng nghiên cứu và khai thác các kết quả hình thành sau quá trình hợp tác.

2. Doanh nghiệp có thể sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để hợp tác với trường đại học như thế nào?
Một nội dung đáng chú ý tại Nghị định 125/2026/NĐ-CP là cơ chế sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp cho hoạt động hợp tác với cơ sở giáo dục đại học.
Theo điểm d khoản 4 Điều 12 Nghị định này, doanh nghiệp được khuyến khích sử dụng đến 30% kinh phí từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chi cho các hoạt động hợp tác với cơ sở giáo dục đại học.
Khoản 5 Điều 12 tiếp tục quy định chi tiết các nội dung mà Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp có thể chi khi hợp tác với trường đại học.
2.1. Chi cho nhân lực tham gia hoạt động hợp tác
Doanh nghiệp có thể sử dụng Quỹ để:
- Chi trả tiền công, thù lao;
- Thuê chuyên gia, giảng viên, nhà khoa học tham gia hoạt động hợp tác;
- Chi đào tạo, bồi dưỡng, thực tập;
- Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại cơ sở giáo dục đại học.
Điều này cho phép hoạt động hợp tác không chỉ tập trung vào một đề tài nghiên cứu cụ thể mà còn gắn với đào tạo và phát triển nhân lực cho doanh nghiệp.
2.2. Chi cho nghiên cứu, công nghệ và hạ tầng nghiên cứu
Quỹ của doanh nghiệp còn được dùng để chi cho:
- Hợp tác nghiên cứu;
- Mua công nghệ, sản phẩm, quy trình;
- Đầu tư, nâng cấp hạ tầng;
- Đầu tư phòng thí nghiệm, thiết bị phục vụ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tại cơ sở giáo dục đại học.
Doanh nghiệp vì vậy có thể tham gia cả vào việc xây dựng năng lực nghiên cứu dài hạn của trường, thay vì chỉ tài trợ cho từng nhiệm vụ riêng lẻ.
2.3. Tài trợ, góp vốn hoặc đồng tài trợ cho hoạt động đổi mới sáng tạo
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp còn được chi để:
- Khảo sát, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung;
- Tài trợ, góp vốn hoặc đồng tài trợ với Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của cơ sở giáo dục đại học để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các dự án đổi mới sáng tạo;
- Chi quản lý, kiểm toán, giám sát, đánh giá hiệu quả và tác động của hoạt động hợp tác;
- Chi các khoản khác theo thỏa thuận giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp.
Như vậy, nguồn Quỹ của doanh nghiệp có thể được sử dụng từ giai đoạn hình thành dự án, triển khai nghiên cứu đến giám sát và đánh giá hiệu quả của quá trình hợp tác.
3. Trường đại học có thể hợp tác với doanh nghiệp trong những lĩnh vực nào?
Khoản 3 Điều 12 Nghị định 125/2026/NĐ-CP xác định cơ sở giáo dục đại học được chủ động đề xuất, xây dựng và triển khai chương trình, dự án hợp tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo với doanh nghiệp.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phải được gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường và nằm trong phạm vi quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục đại học còn có thể:
- Công khai năng lực nghiên cứu, cơ sở vật chất, kết quả sẵn sàng chuyển giao, mô hình hợp tác và cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro;
- Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thông qua hạ tầng nghiên cứu, dịch vụ tư vấn, đào tạo nhân lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu;
- Tạo điều kiện để giảng viên, người học tham gia nghiên cứu, thực hành, làm việc và khởi nghiệp tại doanh nghiệp;
- Phát triển mô hình tích hợp đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, gắn với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu;
- Tổ chức đào tạo nhân lực theo đặt hàng của doanh nghiệp;
- Tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học của doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực tập và nghiên cứu;
- Thực hiện quy đổi giờ giảng, giờ nghiên cứu, thời gian làm việc và thành tích của giảng viên tham gia nghiên cứu, chuyển giao, tư vấn, khởi nghiệp tại doanh nghiệp.
Như vậy, việc hợp tác có thể được triển khai đồng thời trên ba trục chính: nghiên cứu khoa học - đào tạo nhân lực - thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
4. Doanh nghiệp có được khai thác kết quả nghiên cứu sau khi hợp tác với trường đại học không?
Điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định 125/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp được khai thác, ứng dụng kết quả hợp tác nghiên cứu để:
- Phát triển sản phẩm;
- Phát triển dịch vụ;
- Mở rộng thị trường;
- Chuyển giao công nghệ;
- Được chia sẻ lợi ích theo thỏa thuận hợp tác, phù hợp với quy định pháp luật.
Việc phân chia quyền và lợi ích từ hợp tác không phải do một bên tự quyết định. Nguyên tắc hợp tác tại khoản 1 Điều 12 yêu cầu các bên phải bảo đảm bình đẳng, tự nguyện, cùng có lợi; đồng thời thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro, phân chia quyền sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm theo thỏa thuận hợp tác và phù hợp với pháp luật.
Do đó, khi doanh nghiệp và trường đại học cùng tạo ra kết quả nghiên cứu, việc khai thác sản phẩm, công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ hoặc các lợi ích kinh tế phát sinh cần được xác định trong thỏa thuận hợp tác giữa các bên.
5. Nhà nước hỗ trợ hoạt động hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học như thế nào?
Nghị định 125/2026/NĐ-CP cũng quy định cơ chế hỗ trợ từ Nhà nước đối với hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học.
Theo khoản 2 Điều 12, Nhà nước có thể:
- Tổ chức đặt hàng, giao nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ chiến lược và các lĩnh vực ưu tiên;
- Huy động cơ sở giáo dục đại học đồng hành cùng doanh nghiệp trong chương trình, đề án, dự án quốc gia có nội dung nghiên cứu, ứng dụng hoặc phát triển công nghệ mới;
- Bố trí và huy động các nguồn lực, bao gồm Quỹ phát triển khoa học và công nghệ các cấp, để hỗ trợ hợp tác theo cơ chế đồng tài trợ, chia sẻ rủi ro;
- Ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa cao;
- Ưu tiên cấp kinh phí cho cơ sở giáo dục đại học thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có hợp tác hoặc có đặt hàng từ doanh nghiệp;
- Cho phép thực hiện thử nghiệm có kiểm soát trong các trường hợp thuộc phạm vi quy định.
Ngoài ra, Nhà nước còn ưu tiên sử dụng, đặt hàng và nhân rộng kết quả nghiên cứu, công nghệ và mô hình hợp tác do cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp đồng phát triển trong các chương trình, đề án phù hợp.
Như vậy, theo Nghị định 125/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp hợp tác nghiên cứu khoa học với trường đại học có thể tham gia từ đặt hàng nghiên cứu, đồng tài trợ, đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực đến khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Doanh nghiệp còn được sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ cho nhiều nội dung hợp tác cụ thể, đồng thời được chia sẻ lợi ích theo thỏa thuận giữa các bên.
RSS