1. Tổ chức cung ứng dịch vụ tiền di động là gì?
Tại Điều 3 Nghị định 368/2025/NĐ-CP quy định tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động có định nghĩa tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động là tổ chức không phải là ngân hàng hay chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thực hiện cung ứng dịch vụ Tiền di động theo quy định pháp luật.
Trong đó, dịch vụ tiền di động là dịch vụ cung ứng tiện ích như nạp tiền, rút tiền và thanh toán kể cả thanh cho cho hàng hóa dịch vụ nước ngoài thông qua tài khoản Tiền di động cho tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động cấp cho khách hàng.

2. Những trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ tiền di động bị chấm dứt hoạt động
Tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 368/2025/NĐ-CP có quy định về trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động phải chấm dứt cung ứng dịch vụ Tiền di động như sau:
(1) Tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật.
(2) Tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động chủ động gửi thông báo đến Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Công an về việc chấm dứt hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động.
(3) Có bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trong đó yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động phải chấm dứt hoạt động.
(4) Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động phát hiện: tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động không đáp ứng một trong các tiêu chí hoạt động quy định tại Điều 20 Nghị định này, hoặc trong thời hạn 06 tháng liên tục, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động không thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động cho khách hàng, cụ thể các tiêu chí tại Điều 20, như sau:
- Có Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán đối với dịch vụ ví điện tử còn hiệu lực.
- Có Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, loại mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vô tuyến điện còn hiệu lực hoặc là công ty con được công ty mẹ có Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, loại mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vô tuyến điện còn hiệu lực cho sử dụng hạ tầng, mạng lưới, dữ liệu viễn thông để cung ứng dịch vụ Tiền di động theo quy định của pháp luật.
- Có phương án hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
- Có Hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Có hệ thống đáp ứng yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống thông tin cấp độ 3 theo quy định của pháp luật. Hạ tầng công nghệ thông tin và các giải pháp phục vụ cung ứng dịch vụ Tiền di động phải đảm bảo hoạt động liên tục, an toàn trong suốt quá trình cung ứng dịch vụ Tiền di động;
+ Phải có công cụ, giải pháp phù hợp xác định được chính xác địa chỉ giao thức Internet (Internet Protocol - IP), thuê bao sử dụng để có thể truy vấn được đối tượng khách hàng thực sự sử dụng tài khoản Tiền di động;
+ Phải có hệ thống lưu trữ lịch sử giao dịch Tiền di động phát sinh (như: giao dịch nạp tiền, nhận tiền, rút tiền, chuyển tiền và thanh toán hàng hóa, dịch vụ); hệ thống lưu trữ thông tin định danh khách hàng, thông tin định danh thiết bị, địa chỉ IP (trừ giao dịch USSD), địa chỉ kiểm soát truy cập phương tiện truyền thông - nếu có (trừ giao dịch USSD), mã số nhận dạng thiết bị di động quốc tế nếu có, thời gian giao dịch, nội dung giao dịch, tài khoản gửi, tài khoản nhận, số dư, vị trí giao dịch,... từ khi khách hàng mở đến khi đóng tài khoản, trong đó có các thông tin truy vết người sử dụng dịch vụ (đối với các tài khoản Tiền di động đã đóng vẫn phải lưu trữ thông tin tối thiểu 02 năm);
Đồng thời phải có bản sao lưu các thông tin lưu trữ nhằm phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra và cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Thông tin địa chỉ IP, thời gian đăng nhập phải lưu giữ tối thiểu 02 năm. Đối với các tài liệu kế toán, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động phải lưu trữ theo quy định của Luật Kế toán.
(4) Hết thời hạn đình chỉ hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động không khắc phục được vi phạm.
3. Quy trình chấm dứt và đình chỉ cung ứng dịch vụ của Tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động
Khoản 2 Điều 21 Nghị định 368/2025/NĐ-CP có quy định về trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động phải chấm dứt cung ứng dịch vụ Tiền di động như sau:
- Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh một trong các trường hợp quy định tại (3) (4) (5) mục trên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động về việc chấm dứt hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động;
- Trong thời hạn 30 ngày trước khi chấm dứt hoạt động, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động phải gửi thông báo bằng văn bản tới các tổ chức và cá nhân liên quan để thanh lý hợp đồng và hoàn tất các nghĩa vụ, trách nhiệm giữa các bên theo quy định pháp luật.
RSS
