Thế nào là thành tích đột xuất và thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất theo quy định mới nhất? Nghị định 368/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể về hai khái niệm này.
- 1. Thế nào là thành tích đột xuất?
- 2. Thế nào là thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất?
- 3. Thành tích đột xuất và thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất khác nhau thế nào?
- 4. Khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất có phải lấy ý kiến Nhân dân không?
- 5. Nguyên tắc xét khen thưởng đối với thành tích đạt được
1. Thế nào là thành tích đột xuất?
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, thành tích đột xuất được hiểu là thành tích đạt được ngoài chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ thường xuyên mà cá nhân, tập thể phải đảm nhiệm, được giao hoặc thành tích đạt được trong tình huống cấp bách, nguy hiểm cần phải xử lý kịp thời.
Quy định này cho thấy một thành tích được xác định là thành tích đột xuất khi thuộc một trong hai trường hợp:
- Thành tích đạt được ngoài chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ thường xuyên mà cá nhân, tập thể phải đảm nhiệm hoặc được giao;
- Thành tích đạt được trong tình huống cấp bách, nguy hiểm cần phải xử lý kịp thời.
Đây cũng là căn cứ quan trọng để phân biệt thành tích đột xuất với những thành tích được hình thành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác thường xuyên.
2. Thế nào là thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất?

Thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất có yêu cầu cao hơn về mức độ thành tích.
Cụ thể, theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất là thành tích đột xuất đạt được ở mức độ đặc biệt xuất sắc trong một số trường hợp, lĩnh vực được Nghị định xác định.
Các trường hợp được quy định gồm:
- Dũng cảm cứu người;
- Dũng cảm cứu tài sản của Nhân dân, của Nhà nước;
- Trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu;
- Lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, thể thao và các lĩnh vực khác ở trong nước hoặc khu vực, thế giới.
Có thể thấy, Nghị định 368/2026/NĐ-CP xác định thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất trước hết phải là thành tích đột xuất, đồng thời thành tích đó phải đạt đến mức độ đặc biệt xuất sắc và thuộc các trường hợp nêu trên.
3. Thành tích đột xuất và thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất khác nhau thế nào?
Căn cứ khoản 3 và khoản 4 Điều 3 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, có thể phân biệt hai khái niệm chủ yếu ở tính chất và mức độ của thành tích.
Đối với thành tích đột xuất, trọng tâm là tính chất không thường xuyên của thành tích. Thành tích có thể nằm ngoài chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ thường xuyên hoặc phát sinh trong tình huống cấp bách, nguy hiểm cần được xử lý kịp thời.
Trong khi đó, thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất là thành tích đột xuất nhưng phải đạt đến mức đặc biệt xuất sắc. Nghị định còn xác định cụ thể những nhóm trường hợp như dũng cảm cứu người, cứu tài sản; chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc đạt thành tích đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, thể thao và các lĩnh vực khác.
Nói cách khác, không phải mọi thành tích đột xuất đều đương nhiên được coi là thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất. Việc xác định phải căn cứ vào tính chất, mức độ của thành tích và quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 368/2026/NĐ-CP.
4. Khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất có phải lấy ý kiến Nhân dân không?
Nghị định 368/2026/NĐ-CP có quy định riêng liên quan đến việc công khai, lấy ý kiến Nhân dân đối với trường hợp khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 43 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, Bộ Nội vụ lấy ý kiến Nhân dân trên Cổng Thông tin điện tử của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương và Cổng Thông tin điện tử của Bộ Nội vụ đối với các danh hiệu:
- “Tỉnh Anh hùng”;
- “Thành phố Anh hùng”;
- “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”;
- “Anh hùng Lao động”.
Thời hạn lấy ý kiến là 10 ngày làm việc. Tuy nhiên, quy định này loại trừ trường hợp khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất và khen thưởng có nội dung bí mật nhà nước.
Do đó, đối với trường hợp thuộc diện khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất, không thực hiện việc lấy ý kiến Nhân dân theo thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều 43 nêu trên.
5. Nguyên tắc xét khen thưởng đối với thành tích đạt được
Việc xác định một thành tích là đột xuất hoặc đặc biệt xuất sắc đột xuất không đồng nghĩa với việc tự động được áp dụng một hình thức khen thưởng nhất định.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, việc khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được; không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn. Đồng thời, cấp có thẩm quyền khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng đối với các trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục và hồ sơ theo quy định.
Vì vậy, khi xem xét khen thưởng, cần đối chiếu thành tích thực tế của cá nhân, tập thể với điều kiện, tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng tương ứng, thay vì chỉ dựa vào việc thành tích đó được xác định là “đột xuất”.
Trên đây là thông tin về “Thế nào là thành tích đột xuất và thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất trong thi đua, khen thưởng?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 368/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ..
RSS