Sau khi nhận được quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại không chỉ phải tổ chức thực hiện các nội dung của bản án mà còn phải báo cáo, công bố quyết định và phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự. Vậy pháp nhân thương mại phải thực hiện những công việc gì sau khi nhận được quyết định thi hành án?
- 1. Pháp nhân thương mại phải thực hiện những công việc gì sau khi nhận được quyết định thi hành án?
- 1.1. Pháp nhân thương mại phải thực hiện những công việc gì sau khi nhận được quyết định thi hành án?
- 1.2. Trong thời gian chấp hành án, pháp nhân thương mại phải báo cáo thế nào?
- 1.3. Pháp nhân thương mại phải làm gì khi được cơ quan thi hành án kiểm tra?
- 2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại có phải làm việc với cơ quan thi hành án không?
- 3. Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thi hành án thì pháp nhân thương mại có thể bị xử lý thế nào?
1. Pháp nhân thương mại phải thực hiện những công việc gì sau khi nhận được quyết định thi hành án?
1.1. Pháp nhân thương mại phải thực hiện những công việc gì sau khi nhận được quyết định thi hành án?
Khoản 4 Điều 5 Nghị định 251/2026/NĐ-CP quy định:
“Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải thực hiện các công việc, biện pháp theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện cho cơ quan thi hành án hình sự.”
Như vậy, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải thực hiện các công việc, biện pháp theo Luật Thi hành án hình sự 2025 và báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện cho cơ quan thi hành án hình sự.
Các công việc, biện pháp mà pháp nhân thương mại phải thực hiện được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 141 Luật Thi hành án hình sự 2025, gồm:
- Khi cơ quan thi hành án hình sự triệu tập để thông báo, yêu cầu thi hành hình phạt hoặc biện pháp tư pháp, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải công bố quyết định trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm của mình và niêm yết công khai tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh trong suốt thời gian chấp hành án. Đồng thời, phải thông báo việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
- Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động có thời hạn phải tạm dừng hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ theo bản án, quyết định của Tòa án.
- Nếu bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, pháp nhân thương mại phải chấm dứt ngay hoạt động đối với ngành, nghề, lĩnh vực bị đình chỉ hoặc toàn bộ hoạt động nếu bản án, quyết định của Tòa án đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.
- Nếu bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, pháp nhân thương mại không được tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong ngành, nghề thuộc lĩnh vực bị cấm trong thời hạn của bản án, quyết định. Việc ngừng hoạt động được thực hiện kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Pháp nhân thương mại bị cấm huy động vốn không được thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Nếu bị áp dụng biện pháp tư pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc buộc thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra thì phải thực hiện đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án.
- Pháp nhân thương mại phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại về việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp.

1.2. Trong thời gian chấp hành án, pháp nhân thương mại phải báo cáo thế nào?
Khoản 1 Điều 10 Nghị định 251/2026/NĐ-CP quy định:
“Pháp nhân thương mại phải thực hiện việc báo cáo cơ quan thi hành án hình sự bằng văn bản về tình hình, kết quả chấp hành án theo định kỳ 03 tháng một lần (trừ trường hợp thời hạn chấp hành án dưới 03 tháng).”
Như vậy, nếu thời hạn chấp hành án từ 03 tháng trở lên thì pháp nhân thương mại phải định kỳ 03 tháng một lần gửi báo cáo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự.
Ngoài báo cáo định kỳ, khi cần xác minh, làm rõ các vấn đề liên quan đến thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự có thể yêu cầu pháp nhân thương mại báo cáo, giải trình bằng văn bản. Khi đó, pháp nhân thương mại phải cung cấp thông tin, tài liệu trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình.
Pháp nhân thương mại cũng phải phối hợp và thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình cơ quan này kiểm tra việc chấp hành án.
1.3. Pháp nhân thương mại phải làm gì khi được cơ quan thi hành án kiểm tra?
Điều 10 Nghị định 251/2026/NĐ-CP quy định cơ quan thi hành án hình sự có thể kiểm tra việc chấp hành án của pháp nhân thương mại trong một số thời điểm, bao gồm:
- Sau khi nhận được báo cáo về việc thực hiện các công việc, biện pháp thi hành án;
- Trong quá trình chấp hành án khi cần bảo đảm việc thi hành;
- Trong thời hạn 15 ngày trước khi hết thời hạn chấp hành án để làm cơ sở cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt hoặc biện pháp tư pháp.
Khi thực hiện kiểm tra, cơ quan thi hành án hình sự có thể đề nghị cơ quan quản lý nhà nước cử cán bộ tham gia hoặc mời chuyên gia có chuyên môn hỗ trợ.
Theo đó, pháp nhân thương mại phải phối hợp và thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình kiểm tra.
Việc kiểm tra chỉ được thực hiện trong phạm vi thi hành án và không được làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác của pháp nhân thương mại.
2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại có phải làm việc với cơ quan thi hành án không?
Điều 7 Nghị định 251/2026/NĐ-CP quy định ngay sau khi nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi giấy triệu tập đến người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại để thông báo và yêu cầu thi hành án.
Giấy triệu tập phải nêu rõ:
- Họ tên, chức vụ của người được triệu tập;
- Mục đích, nội dung làm việc;
- Thời gian;
- Địa điểm phải có mặt.
Kết thúc buổi làm việc, cơ quan thi hành án hình sự phải lập biên bản có chữ ký của người chủ trì, người được triệu tập, cán bộ thụ lý việc thi hành án và đại diện Viện kiểm sát nếu tham dự.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật không thể có mặt vì tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải báo cáo bằng văn bản và được cơ quan thi hành án hình sự chấp thuận bằng văn bản. Buổi làm việc có thể được lùi nhưng không quá thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án.
Nếu người được triệu tập cố tình không có mặt đúng thời hạn thì cơ quan thi hành án hình sự lập biên bản vắng mặt và vẫn tiếp tục tổ chức thi hành án.
3. Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thi hành án thì pháp nhân thương mại có thể bị xử lý thế nào?
Theo Điều 18 Nghị định 251/2026/NĐ-CP, nếu trong quá trình kiểm tra, giám sát phát hiện pháp nhân thương mại không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành án hình sự phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại lập biên bản về việc vi phạm.
Biên bản này là một trong những căn cứ để cơ quan thi hành án hình sự ra quyết định cưỡng chế.
Điều 17 Nghị định 251/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại gồm:
- Phong tỏa tài khoản;
- Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền bảo đảm thi hành cưỡng chế biện pháp tư pháp;
- Tạm giữ tài liệu, chứng từ, thiết bị chứa dữ liệu điện tử;
- Tạm giữ hoặc thu hồi con dấu của pháp nhân thương mại.
Pháp nhân thương mại có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế cùng lúc nếu một biện pháp không đủ để bảo đảm việc thi hành án.
Trên đây là thông tin về “Pháp nhân thương mại phải thực hiện những công việc gì sau khi nhận được quyết định thi hành án?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 251/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS