Học bạ số chứa nhiều thông tin về kết quả học tập, rèn luyện và quá trình học của học sinh nên không phải bất kỳ ai cũng được tự do truy cập. Vậy những ai được quyền xem và khai thác học bạ số của học sinh?
- 1. Các chủ thể được quyền xem và khai thác học bạ số của học sinh
- 1.1. Học sinh được truy cập và sử dụng học bạ số của mình
- 1.2. Cha, mẹ hoặc người giám hộ được xem học bạ số của học sinh chưa thành niên
- 1.3. Nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục được khai thác trong phạm vi nhiệm vụ
- 1.4. Cơ quan, tổ chức khác chỉ được khai thác khi có căn cứ hợp pháp
- 2. Việc xem và khai thác học bạ số phải đúng phạm vi được phép
- 2.1. Việc khai thác được thực hiện qua các hệ thống và nền tảng được phép
- 2.2. Quyền truy cập phải được phân quyền, xác thực và lưu vết
- 2.3. Chỉ được khai thác phần dữ liệu cần thiết cho mục đích sử dụng
- 3. Dữ liệu học bạ số không được khai thác hoặc chia sẻ tùy ý
- 3.1. Việc chia sẻ phải đúng thẩm quyền, mục đích và đối tượng
- 3.2. Dữ liệu học bạ số phải được bảo mật trong toàn bộ quá trình khai thác
- 3.3. Truy cập hoặc sử dụng trái phép học bạ số bị nghiêm cấm
- 4. Tra cứu học bạ số trên VNeID
1. Các chủ thể được quyền xem và khai thác học bạ số của học sinh
1.1. Học sinh được truy cập và sử dụng học bạ số của mình
Điểm a khoản 1 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định:
“Người học là chủ thể của dữ liệu học bạ số”
Cụ thể hơn, điểm a khoản 4 Điều 11 quy định:
“Người học được truy cập, tra cứu, khai thác, sử dụng học bạ số và thực hiện các quyền liên quan theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, học sinh là chủ thể trực tiếp của dữ liệu học bạ số và được:
- Truy cập học bạ số;
- Tra cứu thông tin;
- Khai thác, sử dụng học bạ số;
- Thực hiện các quyền liên quan đến dữ liệu của mình.
Tuy nhiên, đối với người học chưa thành niên hoặc trường hợp pháp luật yêu cầu phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp thì việc thực hiện các quyền này phải tuân theo quy định pháp luật có liên quan.
Điều 18 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT còn xác định người học có quyền được biết việc tạo lập, cập nhật, quản lý và sử dụng học bạ số của mình; được yêu cầu kiểm tra, chỉnh sửa khi phát hiện sai sót; đồng thời được sử dụng học bạ số hợp pháp trong giao dịch, thủ tục hành chính và các hoạt động khác theo quy định.
1.2. Cha, mẹ hoặc người giám hộ được xem học bạ số của học sinh chưa thành niên
Theo điểm b khoản 1 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học theo quy định pháp luật cũng thuộc nhóm được khai thác dữ liệu học bạ số.
Cụ thể, điểm b khoản 4 Điều 11 Thông tư quy định:
“Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học chưa thành niên được xem dữ liệu học bạ số của người học, theo dõi kết quả học tập, rèn luyện và đề nghị cơ sở giáo dục kiểm tra dữ liệu khi có căn cứ;”
Như vậy, đối với học sinh chưa thành niên, cha, mẹ hoặc người giám hộ được:
- Xem dữ liệu học bạ số;
- Theo dõi kết quả học tập;
- Theo dõi kết quả rèn luyện;
- Đề nghị cơ sở giáo dục kiểm tra dữ liệu khi có căn cứ cho rằng thông tin có vấn đề hoặc sai sót.
1.3. Nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục được khai thác trong phạm vi nhiệm vụ
Điểm c khoản 1 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định:
“Cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định;”
Theo điểm c khoản 4 Điều 11, cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý giáo dục được:
“...truy cập dữ liệu học bạ số theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ và phân quyền nội bộ;”
Như vậy, giáo viên, nhà trường hoặc cán bộ quản lý giáo dục không mặc nhiên được xem toàn bộ dữ liệu của mọi học sinh. Việc truy cập phụ thuộc vào:
- Chức năng, nhiệm vụ được giao;
- Phạm vi quản lý;
- Quyền hạn;
- Phân quyền trên hệ thống.
Khoản 3 Điều 22 Thông tư cũng yêu cầu cơ sở giáo dục phải phân công cá nhân, bộ phận chịu trách nhiệm nhập liệu, kiểm tra, đối soát, xác nhận, ký số, phát hành, quản trị, khai thác và bảo vệ dữ liệu học bạ số.
1.4. Cơ quan, tổ chức khác chỉ được khai thác khi có căn cứ hợp pháp
Điểm d khoản 1 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định:
“Cơ quan, tổ chức khác khi được pháp luật cho phép hoặc được sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu học bạ số.”
Đồng thời, điểm d và điểm đ khoản 4 Điều 11 Thông tư giới hạn rõ phạm vi truy cập:
- Cơ quan tiếp nhận dữ liệu học bạ số chỉ được truy cập phần dữ liệu cần thiết để giải quyết thủ tục hành chính hoặc công việc theo thẩm quyền;
- Các chủ thể khác chỉ được khai thác khi có căn cứ pháp lý hoặc sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu học bạ số.

2. Việc xem và khai thác học bạ số phải đúng phạm vi được phép
Không chỉ xác định ai được quyền xem học bạ số, Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT còn đặt ra nguyên tắc giới hạn phạm vi khai thác nhằm bảo vệ dữ liệu của người học.
2.1. Việc khai thác được thực hiện qua các hệ thống và nền tảng được phép
Theo khoản 2 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT, việc khai thác học bạ số được thực hiện thông qua:
- Hệ thống thông tin;
- Phần mềm quản lý giáo dục;
- Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Ứng dụng định danh quốc gia VNeID;
- Các nền tảng số khác đáp ứng điều kiện kết nối, xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Như vậy, việc xem học bạ số phải thông qua các kênh được phép và có cơ chế xác thực, thay vì tiếp cận dữ liệu một cách tự do.
2.2. Quyền truy cập phải được phân quyền, xác thực và lưu vết
Khoản 3 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định:
“Phân quyền khai thác học bạ số được thực hiện theo nguyên tắc đúng thẩm quyền, đúng phạm vi cho phép, có xác thực và có lưu vết.”
Có thể hiểu, khi một chủ thể truy cập học bạ số phải bảo đảm đồng thời:
- Có quyền truy cập;
- Chỉ truy cập trong phạm vi được cho phép;
- Danh tính hoặc quyền truy cập được xác thực;
- Hoạt động khai thác được ghi nhận trên hệ thống.
2.3. Chỉ được khai thác phần dữ liệu cần thiết cho mục đích sử dụng
Khoản 3 Điều 5 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định:
“Việc khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu học bạ số phải giới hạn trong phạm vi dữ liệu cần thiết, phù hợp với mục đích sử dụng, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép khai thác.”
Cơ quan tiếp nhận dữ liệu để giải quyết một thủ tục hành chính chỉ được khai thác phần dữ liệu cần cho thủ tục đó, chứ không mặc nhiên được khai thác toàn bộ thông tin trong học bạ.
3. Dữ liệu học bạ số không được khai thác hoặc chia sẻ tùy ý
Học bạ số là dữ liệu gắn trực tiếp với người học. Vì vậy, bên cạnh việc xác định quyền truy cập, Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT còn đặt ra các yêu cầu về chia sẻ, bảo mật và ngăn chặn sử dụng trái phép.
3.1. Việc chia sẻ phải đúng thẩm quyền, mục đích và đối tượng
Theo khoản 1 Điều 15 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT:
“Việc chia sẻ dữ liệu học bạ số phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng mục đích, đúng đối tượng và chỉ chia sẻ phần dữ liệu cần thiết.”
Việc chia sẻ giữa cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan, tổ chức có liên quan phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoặc sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Cơ quan, tổ chức nhận dữ liệu không được sử dụng ngoài mục đích tiếp nhận và không được chuyển giao trái phép cho bên thứ ba.
3.2. Dữ liệu học bạ số phải được bảo mật trong toàn bộ quá trình khai thác
Khoản 1 Điều 17 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định:
“Dữ liệu học bạ số phải được bảo mật trong toàn bộ quá trình tạo lập, cập nhật, lưu trữ, truyền nhận, khai thác, sử dụng và chia sẻ.”
Các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan phải thực hiện phân quyền truy cập, bảo mật tài khoản, phương tiện xác thực và chữ ký số; đồng thời có biện pháp ngăn chặn việc truy cập, làm sai lệch hoặc tiết lộ dữ liệu trái phép.
3.3. Truy cập hoặc sử dụng trái phép học bạ số bị nghiêm cấm
Khoản 3 Điều 17 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT nghiêm cấm các hành vi:
“a) Truy cập trái phép vào hệ thống học bạ số;
b) Sửa, xóa, làm sai lệch dữ liệu học bạ số trái quy định;
c) Tiết lộ, chia sẻ, mua bán, sử dụng trái phép dữ liệu học bạ số;
d) Giả mạo chữ ký số, xác thực, bản điện tử học bạ số hoặc bản trích lục điện tử học bạ số.”
Như vậy, quyền xem và khai thác học bạ số không phải quyền truy cập không giới hạn. Mỗi chủ thể chỉ được sử dụng dữ liệu trong đúng phạm vi, mục đích và thẩm quyền được pháp luật cho phép.
4. Tra cứu học bạ số trên VNeID
Khoản 2 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định việc khai thác học bạ số có thể được thực hiện thông qua:
“Hệ thống thông tin, phần mềm quản lý giáo dục; cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các nền tảng số khác khi đáp ứng các điều kiện kết nối, xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và được cơ quan có thẩm quyền cho phép.”
Như vậy, VNeID là một trong các kênh có thể được sử dụng để tra cứu, khai thác học bạ số.
Tuy nhiên, việc tra cứu trên VNeID chỉ thực hiện được khi hệ thống học bạ số đã:
- Được kết nối với ứng dụng VNeID;
- Có cơ chế xác thực người dùng;
- Bảo đảm an toàn thông tin;
- Được cơ quan có thẩm quyền cho phép khai thác.
Quy định này cũng được củng cố tại khoản 2 Điều 14 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT, theo đó dữ liệu học bạ số phải:
“...bảo đảm khả năng tích hợp, khai thác trên Nền tảng số giáo dục quốc gia, cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các hệ thống thông tin có liên quan theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, học bạ số được thiết kế để có thể tích hợp và khai thác trên VNeID. Tuy nhiên, việc người học hoặc phụ huynh có tra cứu được ngay trên ứng dụng hay không còn phụ thuộc vào việc hệ thống đã hoàn tất kết nối, đồng bộ và triển khai kỹ thuật theo quy định.
Khi truy cập, người dùng vẫn phải tuân thủ nguyên tắc tại khoản 3 Điều 11 Thông tư đó là đúng thẩm quyền, đúng phạm vi được phép, có xác thực và có lưu vết trên hệ thống.
Trên đây là thông tin về những ai được quyền xem và khai thác học bạ số của học sinh. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS