Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược kéo dài qua nhiều năm, việc cấp kinh phí phải phù hợp với tiến độ và nhu cầu thực hiện từng giai đoạn. Vậy nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thực hiện trong nhiều năm được cấp kinh phí thế nào? Thông tư 49/2026/TT-BKHCN đã có quy định cụ thể về vấn đề này.
- 1. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ nhiều năm được cấp theo từng năm ngân sách
- 1.1. Việc cấp kinh phí căn cứ vào tiến độ và nhu cầu của từng gói công việc
- 1.2. Kinh phí được cấp theo hợp đồng thực hiện nhiệm vụ
- 2. Việc cấp kinh phí gắn với kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá
- 2.1. Kết quả tại mốc đánh giá là căn cứ cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo
- 2.2. Kết quả đánh giá quyết định việc thanh toán kinh phí
- 3. Quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ thực hiện qua nhiều mốc đánh giá
- 3.1. Được quyết toán phần kinh phí tương ứng với mốc đánh giá đã hoàn thành
- 3.2. Việc cấp kinh phí dự phòng được thực hiện theo nhu cầu phát sinh
1. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ nhiều năm được cấp theo từng năm ngân sách

1.1. Việc cấp kinh phí căn cứ vào tiến độ và nhu cầu của từng gói công việc
Khoản 2 Điều 23 Thông tư 49/2026/TT-BKHCN quy định:
“Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thực hiện trong nhiều năm, kinh phí được cấp theo từng năm ngân sách phù hợp với tiến độ thực hiện, nhu cầu kinh phí của từng gói công việc, từng mốc đánh giá và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.”
Như vậy, đối với nhiệm vụ kéo dài qua nhiều năm, việc cấp kinh phí được thực hiện theo từng năm ngân sách, dựa trên các yếu tố:
- Tiến độ thực hiện nhiệm vụ: Kinh phí được cấp phù hợp với tiến độ triển khai các công việc.
- Nhu cầu kinh phí của từng gói công việc: Xem xét nhu cầu kinh phí tương ứng với những gói công việc cần thực hiện.
- Nhu cầu kinh phí theo từng mốc đánh giá: Gắn việc cấp kinh phí với các mốc đánh giá của nhiệm vụ.
- Khả năng cân đối ngân sách nhà nước: Việc cấp kinh phí phải phù hợp với khả năng cân đối ngân sách.
Kinh phí được bố trí theo nhu cầu thực hiện nhiệm vụ và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.
1.2. Kinh phí được cấp theo hợp đồng thực hiện nhiệm vụ
Bên cạnh quy định riêng đối với nhiệm vụ thực hiện trong nhiều năm, khoản 1 Điều 23 Thông tư 49/2026/TT-BKHCN quy định nguyên tắc cấp kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước như sau:
“Kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được cấp theo hợp đồng thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, phù hợp với tiến độ thực hiện, gói công việc và mốc đánh giá của nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.”
Theo quy định này, hợp đồng thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược là căn cứ để cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước. Việc cấp kinh phí phải phù hợp với tiến độ thực hiện, gói công việc và mốc đánh giá của nhiệm vụ.
2. Việc cấp kinh phí gắn với kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá
2.1. Kết quả tại mốc đánh giá là căn cứ cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo
Điều 12 Thông tư 49/2026/TT-BKHCN quy định về quản lý kinh phí theo mốc đánh giá của nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Cụ thể, khoản 1 Điều 12 quy định:
“Việc cấp, quản lý, sử dụng, thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được áp dụng cơ chế về khoán chi đến sản phẩm cuối cùng theo kết quả đạt được tại mốc đánh giá theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP.”
Đồng thời, khoản 2 Điều 12 Thông tư quy định:
“Kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá được Hội đồng đánh giá kết luận theo quy định tại điểm c khoản 7 Điều 7 Nghị định số 260/2026/NĐ-CP là căn cứ để thanh toán, quyết toán kinh phí tương ứng với mốc đánh giá và làm căn cứ cấp kinh phí thực hiện giai đoạn tiếp theo của nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.”
Như vậy, kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá được sử dụng làm căn cứ để:
- Thanh toán kinh phí tương ứng với mốc đánh giá;
- Quyết toán kinh phí của mốc đánh giá;
- Cấp kinh phí thực hiện giai đoạn tiếp theo của nhiệm vụ.
Đối với nhiệm vụ thực hiện trong nhiều năm, việc đánh giá kết quả ở từng mốc có liên quan trực tiếp đến việc cấp kinh phí cho các giai đoạn tiếp theo.
2.2. Kết quả đánh giá quyết định việc thanh toán kinh phí
Khoản 5 và khoản 6 Điều 24 Thông tư 49/2026/TT-BKHCN quy định việc thanh toán kinh phí theo kết quả đánh giá tại từng mốc.
Trường hợp mốc đánh giá được kết luận đạt yêu cầu, việc thanh toán được thực hiện như sau:
- Đối với mốc đánh giá áp dụng phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, giá trị thanh toán bằng kinh phí khoán của mốc đánh giá đã được phê duyệt trong hợp đồng.
- Đối với mốc đánh giá áp dụng phương thức khoán chi từng phần, phần công việc áp dụng khoán chi được thanh toán theo kinh phí khoán đã phê duyệt. Phần không áp dụng khoán chi được thanh toán theo khối lượng công việc thực tế hoàn thành và hồ sơ, chứng từ theo quy định.
Trường hợp mốc đánh giá chưa đạt yêu cầu, khoản 6 Điều 24 quy định:
“a) Đối với mốc đánh giá áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, chưa thanh toán đối với mốc đánh giá đó;”
Đối với mốc đánh giá áp dụng khoán chi từng phần, chỉ những phần công việc được Hội đồng đánh giá xác nhận đạt yêu cầu mới được thanh toán. Phần công việc chưa đạt yêu cầu thì chưa được thanh toán.
Có thể thấy, việc thanh toán kinh phí không chỉ căn cứ vào số kinh phí đã được phê duyệt mà còn gắn với kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá và phương thức khoán chi được áp dụng.
3. Quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ thực hiện qua nhiều mốc đánh giá
3.1. Được quyết toán phần kinh phí tương ứng với mốc đánh giá đã hoàn thành
Khoản 2 Điều 25 Thông tư 49/2026/TT-BKHCN quy định:
“Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được tổ chức theo nhiều mốc đánh giá, tổ chức chủ trì được quyết toán phần kinh phí tương ứng với từng mốc đánh giá đã hoàn thành theo quyết định phê duyệt nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.”
Theo đó, tổ chức chủ trì được quyết toán phần kinh phí tương ứng với từng mốc đánh giá đã hoàn thành, căn cứ vào quyết định phê duyệt nhiệm vụ.
Đối với nội dung thực hiện theo cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, khoản 1 Điều 25 quy định việc quyết toán kinh phí căn cứ vào kết quả đạt được tại các mốc đánh giá hoặc sản phẩm cuối cùng được Hội đồng đánh giá xác nhận.
Như vậy, đối với nhiệm vụ được chia thành nhiều mốc đánh giá, Thông tư cho phép quyết toán kinh phí theo từng mốc đã hoàn thành, thay vì chỉ đề cập đến việc quyết toán khi toàn bộ nhiệm vụ kết thúc.
3.2. Việc cấp kinh phí dự phòng được thực hiện theo nhu cầu phát sinh
Trong quá trình triển khai nhiệm vụ qua nhiều năm, trường hợp phát sinh nhu cầu sử dụng kinh phí dự phòng, việc cấp khoản kinh phí này được thực hiện theo khoản 3 Điều 23 Thông tư 49/2026/TT-BKHCN.
Điểm a khoản 3 Điều 23 quy định:
“Tổ chức chủ trì lập văn bản đề nghị cấp kinh phí dự phòng, trong đó thuyết minh rõ nội dung phát sinh, căn cứ xác định sự cần thiết và nhu cầu kinh phí; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của hồ sơ đề nghị. Kinh phí dự phòng được cấp trong phạm vi mức kinh phí dự phòng đã được cơ quan quản lý nhiệm vụ phê duyệt.”
Khi đề nghị cấp kinh phí dự phòng, tổ chức chủ trì phải làm rõ:
- Nội dung phát sinh cần sử dụng kinh phí;
- Căn cứ xác định sự cần thiết;
- Nhu cầu kinh phí dự phòng.
Trên cơ sở văn bản đề nghị, cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét, quyết định việc cấp kinh phí dự phòng theo điểm b khoản 3 Điều 23. Khoản kinh phí này chỉ được cấp trong phạm vi mức dự phòng đã được phê duyệt.
Trên đây là thông tin về việc cấp kinh phí cho nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thực hiện trong nhiều năm. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 49/2026/TT-BKHCN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS