Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định 267/2026/NĐ-CP là dành từ Điều 10 đến Điều 22 để quy định cụ thể cách xác định giá trị thiệt hại đối với từng loại hành vi gây lãng phí. Theo Điều 9, việc xác định thiệt hại phải bảo đảm khách quan, công bằng, dựa trên thiệt hại thực tế có thể lượng hóa bằng tiền và có mối quan hệ trực tiếp với hành vi gây lãng phí.

Theo đó, Nghị định quy định phương pháp xác định thiệt hại đối với 13 trường hợp khác nhau gồm:
|
STT |
Trường hợp xác định thiệt hại |
|---|---|
|
1 |
Thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước |
|
2 |
Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát ngân sách nhà nước, nguồn vốn của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách |
|
3 |
Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư |
|
4 |
Thiệt hại đối với hậu quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt |
|
5 |
Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công |
|
6 |
Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công |
|
7 |
Thiệt hại đối với hậu quả làm phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không được sử dụng |
|
8 |
Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, phục hồi, bồi thường thiệt hại |
|
9 |
Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài nguyên, năng lượng |
|
10 |
Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh nghĩa vụ tài chính khác của Nhà nước |
|
11 |
Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp |
|
12 |
Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được đưa vào sử dụng |
|
13 |
Thiệt hại đối với hậu quả làm giảm thu ngân sách nhà nước |
Đối với mỗi loại thiệt hại, Nghị định đều quy định nguyên tắc, căn cứ và phương pháp xác định riêng.
Ngoài việc quy định phương pháp xác định thiệt hại, Nghị định còn quy định trình tự, thủ tục xác định trách nhiệm bồi thường.
Theo Điều 23, việc xác định trách nhiệm bồi thường của cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện đồng thời với quá trình xử lý kỷ luật; quyết định xử lý kỷ luật phải xác định rõ căn cứ tính thiệt hại, mức độ lỗi, phạm vi trách nhiệm, số tiền và phương thức bồi thường.
Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ và đề nghị xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định.
RSS