Ngày 08/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, định hướng đổi mới toàn diện chính sách thu hút, quản lý và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới. Dưới đây là tổng hợp chính sách quan trọng tại Nghị quyết này.
- 1. Chuyển từ ưu đãi đầu tư theo đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả thực hiện cam kết
- 2. Dự án công nghệ chiến lược sẽ được áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt
- 3. Thu hút đầu tư vào chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và nhiều ngành công nghệ cao
- 4. Cắt giảm tối đa quy định về giấy phép lao động đối với chuyên gia nước ngoài
- 5. Xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước
- 6. Xây dựng Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình
- 7. Thí điểm phát triển sàn giao dịch tài sản mã hóa
- 8. Xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1. Chuyển từ ưu đãi đầu tư theo đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả thực hiện cam kết
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị quyết 10-NQ/TW là thay đổi định hướng xây dựng chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Tại Mục I, Bộ Chính trị yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu, đồng thời chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết và quản trị toàn bộ vòng đời dự án.
Mục III.1.2, Nghị quyết yêu cầu đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; xây dựng cơ chế hậu kiểm và thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết.
Các dự án được ưu tiên là những dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, có đóng góp cho nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, năng lượng và tuân thủ pháp luật.

2. Dự án công nghệ chiến lược sẽ được áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt
Nghị quyết 10-NQ/TW dành nhiều nội dung để định hướng thu hút các dự án công nghệ chiến lược, công nghệ cao và các nhà đầu tư có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Theo Mục III.1.2, Bộ Chính trị yêu cầu hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ và quản lý nhà đầu tư chiến lược; xác định các nhóm lĩnh vực, công nghệ chiến lược ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn và thường xuyên cập nhật danh mục đối với các ngành công nghệ, công nghiệp, dịch vụ mới nổi có lợi thế cạnh tranh.
Đáng chú ý, Nghị quyết nêu rõ sẽ áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi đối với các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu hoặc các dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó, Mục III.2 tiếp tục khẳng định ưu tiên thu hút các nhà đầu tư sở hữu công nghệ nền tảng, công nghệ lõi; có cam kết triển khai trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ và các cơ sở có khả năng kết nối Việt Nam với mạng sản xuất, mạng dịch vụ và thị trường tài chính khu vực, thế giới.
3. Thu hút đầu tư vào chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và nhiều ngành công nghệ cao
Một nội dung nổi bật khác của Nghị quyết là xác định rõ các ngành, lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới.
Theo Mục III.2, Bộ Chính trị xác định một số lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài gồm công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Nghị quyết cũng yêu cầu thường xuyên rà soát, cập nhật danh mục lĩnh vực ưu tiên để phù hợp với thực tiễn phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, quy trình đầu tư đặc thù và cơ chế xử lý nhanh các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên. Đây là cơ sở để thu hút các dự án FDI có hàm lượng công nghệ cao, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
4. Cắt giảm tối đa quy định về giấy phép lao động đối với chuyên gia nước ngoài
Tại Mục III.1.3, Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đồng thời có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp FDI đào tạo, bồi dưỡng và từng bước giao các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam.
Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao đến làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi về cư trú, việc làm và môi trường sống.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc rà soát, cắt giảm tối đa các quy định về giấy phép lao động đối với chuyên gia nước ngoài, nhất là chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ cao và chuyên gia làm việc ngắn ngày.
5. Xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước

Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị quyết 10-NQ/TW là nâng cao mức độ liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, qua đó tăng tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.
Đây cũng là định hướng xuyên suốt được đặt ra trong mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.
Để thực hiện mục tiêu này, tại Mục III.3, Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước; hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng kết nối nhà cung ứng, cụm liên kết ngành và cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, Nhà nước sẽ hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính, truy xuất nguồn gốc và khả năng tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.
Bên cạnh đó, Nghị quyết còn khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, từng bước tăng tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần và tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong các ngành công nghệ chiến lược.
6. Xây dựng Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình
Nghị quyết xác định việc chuyển đổi số trong quản lý đầu tư sẽ góp phần giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục cho nhà đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả điều hành của cơ quan nhà nước.
Theo Mục III.5, Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng và vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình, bảo đảm liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương. Cổng thông tin này sẽ thực hiện nguyên tắc "khai một lần, dùng nhiều lần", qua đó hạn chế việc doanh nghiệp phải cung cấp lặp lại cùng một loại thông tin cho nhiều cơ quan khác nhau.
Nghị quyết cũng yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụ nhà đầu tư, tăng cường khả năng phân tích, dự báo và điều hành chính sách trên cơ sở dữ liệu số.
Trước đó, tại Mục III.1.2, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, thực hiện quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; phân cấp, phân quyền gắn với chuẩn hóa quy trình, công khai, minh bạch và hậu kiểm hiệu quả.
7. Thí điểm phát triển sàn giao dịch tài sản mã hóa
Ngoài việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, Nghị quyết 10-NQ/TW cũng đưa ra nhiều định hướng mới nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, minh bạch và tiệm cận thông lệ quốc tế.
Theo Mục III.6, Bộ Chính trị yêu cầu phát triển thị trường vốn trung và dài hạn, hoàn thiện thể chế về thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các định chế trung gian; khẩn trương xây dựng, đưa vào vận hành các trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm tài chính khu vực và đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán. Đáng chú ý, Nghị quyết giao nhiệm vụ thí điểm có kiểm soát việc phát triển các sàn giao dịch tài sản mã hóa.
Đồng thời, Nghị quyết cũng yêu cầu đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài; hoàn thiện hạ tầng giao dịch, thanh toán, bù trừ, lưu ký và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Song song với đó là tăng cường giám sát dòng vốn, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và rủi ro hệ thống nhằm bảo đảm sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường vốn Việt Nam.
8. Xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Bên cạnh việc đổi mới chính sách thu hút đầu tư, Nghị quyết 10-NQ/TW còn yêu cầu thay đổi phương thức đánh giá hiệu quả của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, việc đánh giá sẽ không chỉ dựa trên quy mô vốn đăng ký hoặc số lượng dự án mà hướng đến các tiêu chí phản ánh chất lượng và đóng góp thực chất của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế.
Cụ thể, tại Mục III.5, Bộ Chính trị yêu cầu tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng đối với cả Trung ương và địa phương.
Theo Nghị quyết, các tiêu chí chủ yếu bao gồm chất lượng và hiệu quả đầu tư; mức độ ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo; đào tạo và sử dụng lao động Việt Nam; phát triển nhà cung ứng trong nước; đóng góp cho ngân sách nhà nước; bảo vệ môi trường; tuân thủ pháp luật và bảo đảm an ninh kinh tế.
Đồng thời, Nghị quyết cũng yêu cầu tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư, kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng các biện pháp phù hợp đối với các trường hợp không thực hiện đúng cam kết, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên, năng lượng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và trật tự, an toàn xã hội.
Trên đây là thông tin về Nghị quyết 10-NQ/TW về vốn đầu tư nước ngoài: 8 chính sách quan trọng.
RSS