Người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam cần biết mình có thể yêu cầu cơ quan nào hỗ trợ khi quyền lợi bị ảnh hưởng, đồng thời phải thực hiện những việc gì sau khi ký hợp đồng.
1. Người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có những quyền gì?
Theo khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 11 Nghị định 371/2026/NĐ-CP, người lao động Việt Nam có các quyền sau:
- Tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức quản lý người lao động hỗ trợ tư vấn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Yêu cầu hỗ trợ xác nhận thông tin về nhân sự trên cơ sở hồ sơ quản lý người lao động.
Cơ quan, tổ chức quản lý người lao động được nhắc đến ở đây là các cơ quan, tổ chức được Bộ Ngoại giao phân cấp, ủy quyền, giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu thực hiện quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, theo Điều 5 Nghị định 371/2026/NĐ-CP.
Theo đó, người lao động có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức được Bộ Ngoại giao giao thực hiện việc quản lý này hỗ trợ xác nhận thông tin về nhân sự trên cơ sở hồ sơ quản lý người lao động quy định tại Điều 8 Nghị định 371/2026/NĐ-CP.
- Phiếu thông tin cá nhân của người lao động Việt Nam theo Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
- Bản sao hợp đồng lao động đã ký kết giữa người lao động Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước cho người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam theo Mẫu số 02 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Đồng thời, trong quá trình làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, người lao động cũng có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức này hỗ trợ tư vấn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo khoản 2, khoản 3 Điều 11 Nghị định 371/2026/NĐ-CP.
2. Người lao động phải thực hiện những nghĩa vụ gì?

Khoản 4 đến khoản 8 Điều 11 Nghị định 371/2026/NĐ-CP quy định người lao động phải:
- Tuân thủ pháp luật Việt Nam về lao động, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và các quy định pháp luật khác có liên quan.
- Thực hiện đúng hợp đồng lao động đã ký với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Hoàn thành chương trình tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước trong 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng lao động.
- Thực hiện quy định về quản lý người lao động và hồ sơ quản lý tại Điều 7, Điều 8 Nghị định này.
- Cập nhật hồ sơ và gửi đến cơ quan, tổ chức quản lý khi thông tin cá nhân có bất kỳ thay đổi nào hoặc khi cơ quan, tổ chức quản lý yêu cầu.
Theo khoản 8 Điều 11 Nghị định 371/2026/NĐ-CP, người lao động có thể cập nhật hồ sơ trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, trực tuyến hoặc qua địa chỉ thư điện tử chính thức của cơ quan, tổ chức được Bộ Ngoại giao phân cấp, ủy quyền, giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu thực hiện quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Người lao động cần thực hiện việc cập nhật hồ sơ trong suốt thời gian làm việc. Đây là cơ sở để cơ quan, tổ chức được Bộ Ngoại giao giao thực hiện việc quản lý người lao động hỗ trợ xác nhận thông tin về nhân sự khi người lao động có yêu cầu theo khoản 3 Điều 11 Nghị định 371/2026/NĐ-CP.
3. Sau khi ký hợp đồng, người lao động phải nộp hồ sơ khi nào?
Đây là trách nhiệm có thời hạn cụ thể. Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 371/2026/NĐ-CP, trong 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng lao động, người lao động Việt Nam phải nộp cho cơ quan, tổ chức quản lý:
- Phiếu thông tin cá nhân theo Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định;
- Bản sao hợp đồng lao động đã ký với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Điều 8 còn quy định giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật trong hồ sơ quản lý. Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 11, người lao động có 06 tháng từ ngày ký hợp đồng để hoàn thành chương trình. Vì vậy, cần phân biệt thời hạn 10 ngày làm việc để nộp hồ sơ ban đầu với thời hạn 06 tháng để hoàn thành chương trình.
Nếu hợp đồng lao động chấm dứt, khoản 5 Điều 7 quy định cơ quan, tổ chức quản lý gửi văn bản xác nhận việc chấm dứt quản lý và hoàn trả hồ sơ quản lý cho người lao động trong 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng của tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Nghị định 371/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/11/2026. Trước khi áp dụng các thời hạn và thủ tục nêu trên cho một trường hợp cụ thể, cần lưu ý mốc hiệu lực này.
Trên đây là thông tin về “Lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có những quyền và nghĩa vụ gì?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 371/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ văn bản..
RSS