1. Trách nhiệm của người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là gì?
Theo khoản 2 Điều 80 Điều 80 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, số 36/2024/QH15 quy định, người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ có trách nhiệm sau đây:
- Giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn;
- Báo tin ngay cho cơ quan Công an, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;
- Tham gia bảo vệ hiện trường;
- Tham gia bảo vệ tài sản của người bị nạn;
- Cung cấp thông tin liên quan về vụ tai nạn theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Lưu ý:
- Người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông chỉ được sử dụng phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ để đưa nạn nhân đi cấp cứu trong trường hợp không có phương tiện nào khác nhưng phải xác định vị trí phương tiện, vị trí nạn nhân tại hiện trường, không được làm thay đổi, mất dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ. Trường hợp có người chết phải giữ nguyên hiện trường và che đậy thi thể.
- Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ có trách nhiệm chở người bị thương đi cấp cứu. Xe ưu tiên, xe chở người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao không bắt buộc thực hiện quy định này.

2. Không cứu giúp người bị tai nạn giao thông bị xử lý hình sự khi nào?
Theo khoản 6 Điều 12 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định:
Phạt tiền từ 500.000 đồng - 01 triệu đồng đối với cá nhân, từ 01 - 02 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông đường bộ;
- Lợi dụng việc xảy ra tai nạn giao thông đường bộ để hành hung, đe dọa, xúi giục, gây sức ép, làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn giao thông đường bộ;
- Cản trở người, phương tiện tham gia giao thông trên đường bộ; ném gạch, đất, đá, cát hoặc vật thể khác vào người, phương tiện đang tham gia giao thông trên đường bộ;
- Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi: bày, bán hàng hóa; để vật liệu xây dựng; để xe, trông, giữ xe.
Như vậy, hành vi không cứu người bị tai nạn giao thông sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 500.000 đồng - 01 triệu đồng đối với cá nhân, từ 01 - 02 triệu đồng đối với tổ chức khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông đường bộ.
Trường hợp người bị tai nạn giao thông đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, người không cứu giúp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 132 Bộ luật Hình sự 2015, số 100/2015/QH13 quy định xử lý hình sự với tội không không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng như sau:
- Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
-
Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;
-
Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.
- Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội được quy định như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015, số 100/2015/QH13 được sửa đổi bởi điểm a, điểm b khoản 1 Điều 1 Bộ luật Hình sự sửa đổi 2017, số 12/2017/QH14 quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội như sau:
- Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
- Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
- Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
- Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
- Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
- Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
- Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu?
Theo khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015, số 100/2015/QH13 quy định đối với từng loại tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định khác nhau, cụ thể:
- 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
- 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
- 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
- 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện.
Nếu trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự mà người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật hình sự 2015 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự mà người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.
Trên đây là thông tin về việc Không giúp người bị tai nạn giao thông: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?…
RSS