Giấy phép khai thác khoáng sản còn hạn nhưng đã khai thác đủ trữ lượng có được tiếp tục khai thác không? Đây là tình huống doanh nghiệp cần lưu ý để bảo đảm hoạt động khai thác đúng quy định. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ quy định và thủ tục cần thực hiện trong trường hợp này.
- 1. Giấy phép khai thác khoáng sản còn hạn nhưng đã khai thác đủ trữ lượng có được tiếp tục khai thác không?
- 2. Khi nào phải điều chỉnh giấy phép để khai thác phần trữ lượng tăng thêm?
- 3. Trữ lượng đã khai thác và còn lại được xác định từ những tài liệu nào?
- 3.1. Sổ sách, chứng từ theo dõi khối lượng khai thác
- 3.2. Bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng
- 4. Khi đề nghị điều chỉnh giấy phép, báo cáo và văn bản đề nghị được lập thế nào?
1. Giấy phép khai thác khoáng sản còn hạn nhưng đã khai thác đủ trữ lượng có được tiếp tục khai thác không?
Theo khoản 2 Điều 17 Thông tư 54/2026/TT-BCT, tổ chức, cá nhân phải dừng hoạt động khai thác nếu đã khai thác đủ trữ lượng, khối lượng được phép khai thác nhưng chưa hoàn thành thủ tục điều chỉnh nội dung giấy phép, kể cả khi giấy phép vẫn còn thời hạn khai thác.
Quy định này áp dụng đối với cả giấy phép khai thác khoáng sản và giấy phép khai thác tận thu khoáng sản.
Về thời điểm được tiếp tục khai thác phần tăng thêm, khoản 3 Điều 17 quy định:
“Tổ chức, cá nhân chỉ được tiếp tục khai thác phần trữ lượng, khối lượng khoáng sản tăng thêm sau khi đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản để bổ sung trữ lượng, khối lượng khoáng sản được phép khai thác theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, việc tiếp tục khai thác phần trữ lượng, khối lượng tăng thêm phải căn cứ vào quyết định điều chỉnh nội dung giấy phép của cơ quan có thẩm quyền. Việc đang thực hiện thủ tục điều chỉnh chưa đáp ứng điều kiện này.

2. Khi nào phải điều chỉnh giấy phép để khai thác phần trữ lượng tăng thêm?
Khoản 1 Điều 17 Thông tư 54/2026/TT-BCT quy định trách nhiệm đánh giá trữ lượng thực tế và trường hợp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép như sau:
“Trong quá trình khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản (trừ trường hợp khai thác cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển), trên cơ sở kết quả thống kê trữ lượng, khối lượng khoáng sản đã khai thác, kiểm kê trữ lượng, khối lượng khoáng sản còn lại chưa khai thác, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm đánh giá, so sánh tổng trữ lượng, khối lượng khoáng sản thực tế trong khu vực khai thác so với trữ lượng, khối lượng khoáng sản được phép khai thác quy định trong giấy phép khai thác khoáng sản.
Trường hợp có khả năng tổng trữ lượng, khối lượng khoáng sản thực tế trong khu vực khai thác lớn hơn trữ lượng, khối lượng khoáng sản được phép khai thác quy định trong giấy phép khai thác khoáng sản và tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có nhu cầu tiếp tục khai thác phần trữ lượng tăng thêm thì phải thực hiện thủ tục điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản theo quy định.”
Như vậy, trường hợp phải điều chỉnh được quy định ngay từ khi có khả năng tổng trữ lượng, khối lượng thực tế lớn hơn mức được phép khai thác và tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác phần tăng thêm.
Ngoại lệ về khai thác cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển được nêu trong khoản 1 về trách nhiệm đánh giá, so sánh. Khoản 2 và khoản 3 Điều 17 không nêu ngoại lệ này khi quy định việc dừng khai thác và điều kiện tiếp tục khai thác phần tăng thêm.
3. Trữ lượng đã khai thác và còn lại được xác định từ những tài liệu nào?
Để đánh giá trữ lượng thực tế, khoản 1 Điều 17 yêu cầu sử dụng kết quả thống kê trữ lượng, khối lượng đã khai thác và kiểm kê trữ lượng, khối lượng còn lại chưa khai thác. Các tài liệu theo dõi và việc xác định trữ lượng được quy định tại Điều 10, Điều 12 của Thông tư.
3.1. Sổ sách, chứng từ theo dõi khối lượng khai thác
Theo điểm a khoản 2 Điều 10, tổ chức, cá nhân phải ghi chép, thống kê hàng ngày vào sổ theo dõi các nội dung:
- Khối lượng khoáng sản nguyên khai;
- Khối lượng đất đá thải, nếu có;
- Khối lượng khoáng sản đưa vào chế biến;
- Khối lượng khoáng sản sau công đoạn chế biến theo dự án khai thác khoáng sản.
Ngoài sổ theo dõi khối lượng, khoản 2 Điều 10 còn quy định các tài liệu làm căn cứ kiểm soát, thống kê, kiểm kê gồm: Sổ theo dõi hàm lượng, tỷ lệ khoáng sản có ích; bản đồ hiện trạng, mặt cắt hiện trạng khu vực khai thác; chứng từ kê khai, quyết toán nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường.
Trong đó, điểm b khoản này yêu cầu số liệu về hàm lượng, tỷ lệ khoáng sản có ích được ghi chép hàng tháng; yêu cầu này chỉ áp dụng đối với các loại khoáng sản kim loại và khoáng chất công nghiệp thuộc mục 1 và mục 4 phần I Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 193/2025/NĐ-CP.
3.2. Bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng
Về xác định trữ lượng còn lại, khoản 3 Điều 12 quy định:
“Trên cơ sở thông tin, số liệu của bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản tính toán, xác định trữ lượng khoáng sản còn lại chưa khai thác; so sánh, đánh giá biến động trữ lượng, chất lượng khoáng sản đã khai thác thực tế với trữ lượng khoáng sản được phép khai thác và kết quả thăm dò khoáng sản, kết quả khảo sát, đánh giá thông tin chung đối với khoáng sản nhóm IV đã được xác nhận (phê duyệt, công nhận); giải trình, xác định lý do có sự sai khác (nếu có).”
Theo điểm d khoản 1 Điều 6 Luật Địa chất và khoáng sản 2024, khoáng sản nhóm IV gồm đất sét, đất đồi, đất có tên gọi khác; đất lẫn đá, cát, cuội hoặc sỏi; cát (trừ cát, sỏi lòng sông, lòng hồ và khu vực biển), chỉ phù hợp để làm vật liệu san lấp, đắp nền móng công trình, xây dựng công trình thủy lợi, phòng, chống thiên tai.
Đối với khoáng sản rắn, khoản 1 Điều 12 yêu cầu lập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng từ khi bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ, trong quá trình khai thác cho đến khi kết thúc khai thác, đóng cửa mỏ.
Theo khoản 2 Điều này, bản đồ, bản vẽ được lập 01 năm 01 lần trên cơ sở cập nhật kết quả thường xuyên; thời điểm lập, cập nhật đến hết ngày 31/12 hằng năm và nộp trước ngày 01/02 của năm tiếp theo cho cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có mỏ.
4. Khi đề nghị điều chỉnh giấy phép, báo cáo và văn bản đề nghị được lập thế nào?
Điểm b, điểm d khoản 1 Điều 16 Thông tư 54/2026/TT-BCT quy định việc báo cáo kết quả khai thác và kiểm kê trữ lượng còn lại khi đề nghị điều chỉnh giấy phép.
Đối với trường hợp điều chỉnh, kỳ báo cáo kết quả khai thác được tính từ khi được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản đến thời điểm đề nghị điều chỉnh.
Báo cáo kiểm kê trữ lượng khoáng sản còn lại tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh được tích hợp vào báo cáo kết quả khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản.
Về nơi nhận, khoản 3 Điều 16 yêu cầu các báo cáo này được nộp cho cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản.
Điều 20 Thông tư 54/2026/TT-BCT quy định các mẫu tại Phụ lục II như sau:
- Mẫu số 04: Văn bản đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản.
- Mẫu số 20: Báo cáo kết quả hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản.
- Mẫu số 14: Quyết định điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản để bổ sung trữ lượng, khối lượng được phép khai thác.
Đối với số liệu phục vụ báo cáo, khoản 3 Điều 10 yêu cầu thông tin trong sổ sách, chứng từ, tài liệu và báo cáo định kỳ hoạt động khoáng sản, báo cáo thống kê trữ lượng đã khai thác, báo cáo kiểm kê trữ lượng còn lại phải thống nhất.
Nếu số liệu trong sổ sách, chứng từ, tài liệu chênh lệch quá 10% so với sổ theo dõi, thống kê khối lượng tại điểm a khoản 2 Điều 10, tổ chức, cá nhân phải giải trình và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về nội dung giải trình.
Trên đây là nội dung thông tin về “Giấy phép khai thác khoáng sản còn hạn nhưng đã khai thác đủ trữ lượng có được tiếp tục khai thác không?”. Bạn đọc có thể tham khảo thêm Thông tư 54/2026/TT-BCT và các biểu mẫu liên quan trên LuatVietnam.vn.
RSS