1. Hướng dẫn kê khai khoản trả chậm, trả góp trên 5 triệu
Đây là nội dung quy định tại Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP về thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực từ ngày 20/06/2026.
Theo Điều 4 Nghị định 144/2026/NĐ-CP bổ sung quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong trường hợp mua trả chậm, trả góp tại điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP như sau:
Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Ngoài ra, Nghị định 144 còn bổ sung một số sản phẩm bảo hiểm không chịu thuế giá trị gia tăng, thay đổi phụ lục mới sản phẩm tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu không chịu thuế giá trị gia tăng =>> Xem chi tiết: Điểm mới của Nghị định 144/2026/NĐ-CP về thuế giá trị gia tăng.
2. Chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal
Chính phủ đã ban hành Nghị định 127/2026/NĐ-CP quy định về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal, có hiệu lực từ ngày 01/06/2026.
Yêu cầu Halal là tập hợp các quy tắc, điều kiện về thành phần, nguyên liệu, quá trình sản xuất, chế biến, bao gói, ghi nhãn, bảo quản và vận chuyển được quy định cụ thể trong các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo về sản phẩm, dịch vụ Halal.
Tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal được xây dựng, công bố và áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Quá trình xây dựng, sửa đổi tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal phải bảo đảm có sự tham gia của đại diện Bộ Dân tộc và Tôn giáo và chuyên gia là người Hồi giáo có chuyên môn về các yêu cầu Halal trong quá trình tham vấn, thẩm định các nội dung liên quan.
Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài về sản phẩm, dịch vụ Halal thực hiện như sau:
- Trường hợp sản xuất sản phẩm, dịch vụ Halal để xuất khẩu: Cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal theo yêu cầu, thỏa thuận hoặc hợp đồng với tổ chức, cá nhân nhập khẩu;
- Trường hợp sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ Halal để tiêu thụ trong nước: Cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo về sản phẩm, dịch vụ Halal
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được khuyến khích xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở đối với sản phẩm, dịch vụ Halal của mình đối với các sản phẩm, dịch vụ chưa có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo tương ứng. Tiêu chuẩn cơ sở phải đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu chung của các tiêu chuẩn Halal quốc tế, khu vực được thừa nhận rộng rãi.
3. Quy định mới về hợp đồng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Thông tư 09/2026/TT-BNV sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 21/2021/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực từ ngày 30/06/2026.
Thông tư này điều chỉnh các quy định liên quan đến việc người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như:
- Nội dung chi tiết của hợp đồng cung ứng lao động
Thông tư sửa đổi nội dung chi tiết của hợp đồng cung ứng lao động theo thị trường, ngành, nghề, công việc. Các thị trường được quy định bao gồm Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Tây Á, Trung Á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Đại Dương, Châu Mỹ, Trung Quốc, Ma Cao (Trung Quốc), Đông Nam Á và lao động trên biển quốc tế. Mỗi thị trường có phụ lục riêng quy định chi tiết các ngành, nghề, công việc.
- Tài liệu chứng minh việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Thông tư quy định tài liệu chứng minh việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của nước tiếp nhận lao động. Đối với các thị trường như Ma-lai-xi-a, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác, tài liệu chứng minh bao gồm giấy phép kinh doanh, văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước tiếp nhận, và các thỏa thuận hợp tác.
- Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới
Thông tư quy định mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới không vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc. Đối với hợp đồng lao động có thời hạn từ 36 tháng trở lên, mức trần không quá 1,5 tháng tiền lương. Mức trần cụ thể cho từng thị trường, ngành, nghề, công việc được quy định tại Phụ lục X.
Trên đây là một số Chính sách mới tháng 6/2026 dành cho doanh nghiệp.
RSS