
1. Áp dụng thống nhất thời hạn nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
Chính phủ đã ban hành Nghị định 346/2025/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, ngày 19/12/2025
Đối với các cơ sở bắt đầu hoạt động sau ngày 31/3 hằng năm, việc xác định và nộp phí được thực hiện kể từ quý bắt đầu phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 53/2024/NĐ-CP, thời hạn nộp phí được phân biệt giữa các cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình từ 20 m³/ngày trở lên (nộp theo quý) và các cơ sở có tổng lượng nước thải dưới 20 m³/ngày (kê khai một lần và nộp phí cho cả năm, chậm nhất ngày 31/3). Việc thống nhất thời hạn nộp theo quý tại Nghị định 346/2025/NĐ-CP đã đơn giản hóa đáng kể thủ tục thực hiện cho các cơ sở phát sinh nước thải.
2. Quy định 3 cấp ứng phó sự cố tràn dầu
Ngày 23/01/2026, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 04/2026/QĐ-TTg ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầuTại Điều 5 Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu (ban hành kèm theo Quyết định số 04/2026/QĐ-TTg), việc tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu được phân cấp theo mức độ sự cố, gồm 03 cấp như sau:
(1) Cấp cơ sở
- Sự cố tràn dầu xảy ra tại cơ sở:
Chủ cơ sở có trách nhiệm tổ chức, chỉ huy lực lượng, phương tiện, thiết bị của mình hoặc huy động lực lượng theo hợp đồng ứng phó sự cố tràn dầu để triển khai ứng phó kịp thời, hiệu quả; đồng thời là người chỉ huy hiện trường.
- Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở:
Chủ cơ sở báo cáo cơ quan chủ quản và Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức ứng phó, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để được hỗ trợ.
- Trường hợp sự cố nghiêm trọng hoặc xảy ra tại khu vực ưu tiên bảo vệ:
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị là chỉ huy hiện trường; đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố và Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để chỉ đạo, ứng phó kịp thời.
(2) Cấp tỉnh
- Sự cố vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở hoặc chưa xác định rõ nguyên nhân:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố trực tiếp chủ trì tổ chức ứng phó, chỉ định người chỉ huy hiện trường và triển khai theo kế hoạch của địa phương; được huy động khẩn cấp các nguồn lực cần thiết của các cơ sở, bộ, ngành trên địa bàn và Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực.
- Đầu mối tổ chức ứng phó:
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu.
(3) Cấp quốc gia
- Sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng, vượt quá khả năng của địa phương:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để trực tiếp chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức ứng phó.
- Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó trong nước:
Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc yêu cầu trợ giúp quốc tế.
Trong quá trình tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu tại các cấp nêu trên, cơ quan chủ trì hoặc người chỉ huy hiện trường có trách nhiệm chủ động xử lý tình huống; báo cáo kịp thời diễn biến sự cố;
Đồng thời, đề xuất các kiến nghị cần thiết với cấp có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình
3. Thay đổi phương pháp tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
So với quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 53/2024/NĐ-CP, Điều 7 Nghị định 346/2025/NĐ-CP đã thay đổi căn bản cách tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Theo đó, phương thức thu phí được chuyển từ cách tính mang tính “theo ngưỡng và bình quân” sang cách tính dựa trên lượng nước thải xả ra thực tế và mức độ ô nhiễm.
Cụ thể, Nghị định 346/2025/NĐ-CP không còn phân loại cơ sở theo ngưỡng lưu lượng nước thải dưới hay trên 20 m³/ngày như quy định trước đây. Thay vào đó, đối tượng nộp phí được phân chia dựa trên việc cơ sở có thực hiện quan trắc nước thải hay không, từ đó áp dụng hai công thức tính phí tương ứng.
Đối với các cơ sở không thuộc diện quan trắc và không thực hiện tự quan trắc, mức phí được xác định bằng cách lấy tổng lượng nước thải thực tế xả ra trong quý nhân với mức phí cố định là 1.700 đồng/m³. Cách tính này mang tính đơn giản, giúp cơ sở dễ dàng xác định nghĩa vụ tài chính của mình.
Trong khi đó, đối với các cơ sở có thực hiện quan trắc nước thải (bắt buộc hoặc tự nguyện), mức phí được xác định trên cơ sở kết hợp giữa khối lượng nước thải và mức độ ô nhiễm của các thông số trong nước thải. Cách tiếp cận này phản ánh rõ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó mức độ xả thải và ô nhiễm càng cao thì phí phải nộp càng lớn.
So với quy định cũ tại Nghị định 53/2024/NĐ-CP – vốn áp dụng mức phí cố định theo quy mô xả thải – cách tính mới khắc phục tình trạng các cơ sở có mức độ ô nhiễm khác nhau nhưng vẫn phải nộp mức phí tương đương.
4. Bổ sung các trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 346/2025/NĐ-CP, pháp luật đã bổ sung thêm một số trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, là những nội dung chưa được quy định tại Nghị định 53/2020/NĐ-CP trước đây.
Các trường hợp được miễn bao gồm: nước thải phát sinh từ việc sử dụng nước biển trong hoạt động sản xuất muối; nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại các địa bàn cấp xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo pháp luật về đầu tư.
Ngoài ra, nước thải sinh hoạt của tổ chức tại khu vực chưa có hệ thống cấp nước sạch hoặc phải tự khai thác nước để sử dụng (trừ các cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình từ 20 m³/ngày trở lên) cũng thuộc diện được miễn phí.
Bên cạnh đó, nghị định mới còn quy định miễn phí đối với nước thải phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản theo pháp luật về địa chất và khoáng sản; nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến của các cơ sở được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; cũng như nước thải phát sinh từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, hải sản.

5. Điều chỉnh tăng mức phí đối với các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp
Tại điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định 346/2025/NĐ-CP, mức phí đối với các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp đã được điều chỉnh tăng so với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 53/2024/NĐ-CP. Theo đó, mức phí đối với nhu cầu ô xy hóa học (COD) được nâng từ 2.000 đồng/kg lên 3.000 đồng/kg; chất rắn lơ lửng (TSS) tăng từ 2.400 đồng/kg lên 3.500 đồng/kg.
Đối với các kim loại nặng và chất độc hại, mức phí cũng có sự thay đổi đáng kể. Trong đó, thủy ngân (Hg) được điều chỉnh tăng mạnh từ 20 triệu đồng/kg lên 55 triệu đồng/kg. Các thông số khác như chì (Pb), arsenic (As) và cadimium (Cd) cũng được điều chỉnh mức phí nhằm phản ánh đúng mức độ nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người.
Như vậy, so với Nghị định 53/2024/NĐ-CP, Nghị định 346/2025/NĐ-CP đã nâng mức phí đối với hầu hết các thông số ô nhiễm, đặc biệt là các chất ô nhiễm phổ biến và độc hại, qua đó thể hiện xu hướng quản lý chặt chẽ hơn đối với nguồn thải công nghiệp.
RSS
