- 1. Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư
- 2. Đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài
- 3. Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó
- 4. Đầu tư bằng việc mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài
- 5. Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức đầu tư ra nước ngoài trong Luật Đầu tư 2025 (có hiệu lực ngày 1/3/2026), bao gồm các hình thức đầu tư như sau (Điều 39 Luật Đầu tư năm 2025):
(1) Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư;
(2) Đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài;
(3) Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó;
(4) Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài; và
(5) Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.
Ngoài ra, hoạt động này còn được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 103/2026/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 3/4/2026), Nghị định 135/2015/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 15/2/2016) và các quy định về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1. Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư
Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư. Tùy từng quốc gia tiếp nhận khoản đầu tư, pháp luật sẽ quy định loại hình tổ chức kinh tế khác nhau. Vì vậy, nhà đầu tư Việt Nam cần lựa chọn mô hình phù hợp và tuân thủ pháp luật nước sở tại. Việc nghiên cứu trước thị trường và quy định pháp lý của nước tiếp nhận đầu tư là rất quan trọng trong quá trình thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài.
Nhìn từ góc độ pháp luật Việt Nam, tổ chức kinh tế gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh (Theo khoản 21 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2025). Trên cơ sở đó, khi nhà đầu tư Việt Nam thực hiện thành lập tổ chức kinh tế tại nước ngoài, hoạt động này được xác định là một hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định tại Điều 39 Luật Đầu tư 2025.
Theo đó, nhà đầu tư không chỉ phải tuân thủ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư về việc thành lập và vận hành tổ chức kinh tế, mà còn phải đáp ứng các điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm việc xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (trừ các trường hợp miễn thực hiện (Theo Điều 15 Luật Đầu tư năm 2025), đăng ký giao dịch ngoại hối, ..v..v. Với đặc điểm cho phép nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và quản lý hoạt động kinh doanh, đây là một trong những hình thức đầu tư ra nước ngoài được lựa chọn phổ biến trên thực tế.

2. Đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài
Đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài là một trong các hình thức đầu tư ra nước ngoài được pháp luật Việt Nam công nhận. Tuy nhiên, trong các quy định pháp luật Việt Nam từ trước tới nay chưa có quy định giải thích chi tiết đối với hình thức đầu tư này, trong Luật Đầu tư 2020, Luật Đầu tư 2025 cũng như các nghị định hướng dẫn liên quan.
Trên thực tiễn, có thể hiểu đây là hình thức mà nhà đầu tư Việt Nam ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư mà không thành lập pháp nhân mới tại nước tiếp nhận đầu tư. Các hợp đồng phổ biến có thể bao gồm hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) (Theo khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2025), hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), hoặc các thỏa thuận hợp tác khai thác và kinh doanh khác với đối tác nước ngoài về việc đầu tư (Điều 13 Nghị định 103/2026/NĐ-CP). Về bản chất pháp lý, hình thức này dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận theo Bộ luật Dân sự 2015 và chịu sự điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
Hình thức đầu tư này mang lại sự linh hoạt cho nhà đầu tư do không cần thực hiện thủ tục thành lập pháp nhân, từ đó giúp tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của các bên phụ thuộc lớn vào nội dung hợp đồng, do đó tiềm ẩn rủi ro tranh chấp nếu không quy định rõ cơ chế quản lý, phân chia lợi nhuận và giải quyết tranh chấp. Đồng thời, nhà đầu tư cũng cần đặc biệt lưu ý đến quy định của pháp luật nước sở tại để đảm bảo tính hợp pháp và khả thi của hợp đồng.
Một điểm cần lưu ý trên thực tiễn áp dụng là, trong trường hợp việc hợp tác giữa các bên dẫn đến việc thành lập một pháp nhân mới tại nước ngoài (ví dụ: công ty liên doanh), thì cơ quan cơ quan cấp phép - Bộ Tài chính Việt Nam, thường có quan điểm rằng dự án đầu tư này không còn được coi là “đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài”. Thay vào đó, tùy theo bản chất giao dịch, dự án có thể bị phân loại thành hình thức thành lập tổ chức kinh tế mới như đã phân tích tại Mục 1, hoặc hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp như đã nêu tại Mục 3. Do đó, việc xác định đúng bản chất pháp lý của cấu trúc đầu tư ngay từ đầu là rất quan trọng để đảm bảo kê khai đúng hình thức đầu tư ra nước ngoài.
3. Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó
Theo quy định, nhà đầu tư Việt Nam có thể thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài thông qua việc góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài nhằm tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó. Đây là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp phổ biến, đặc biệt trong bối cảnh các giao dịch mua bán – sáp nhập (M&A) xuyên biên giới ngày càng phát triển.
Về bản chất, hình thức này cho phép nhà đầu tư sử dụng vốn để tham gia vào cơ cấu sở hữu của một tổ chức kinh tế đã tồn tại hoặc được thành lập mới tại nước ngoài, đồng thời có quyền tham gia quản lý, điều hành hoạt động của tổ chức đó. Quyền tham gia quản lý có thể được thể hiện thông qua việc nắm giữ quyền biểu quyết, quyền bổ nhiệm nhân sự quản lý hoặc tham gia vào các cơ quan quản trị như hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, tùy thuộc vào tỷ lệ sở hữu và thỏa thuận giữa các bên.
So với hình thức đầu tư gián tiếp (như mua chứng khoán đơn thuần), điểm đặc trưng của hình thức này là yếu tố “tham gia quản lý”, thể hiện mức độ gắn kết và kiểm soát cao hơn của nhà đầu tư đối với tổ chức kinh tế nhận vốn. Tuy nhiên, pháp luật không mặc định rằng nhà đầu tư phải nắm giữ tỷ lệ sở hữu chi phối. Trên thực tế, ngay cả trong trường hợp tỷ lệ sở hữu dưới 50%, nhà đầu tư vẫn có thể được coi là tham gia quản lý nếu có các thỏa thuận hoặc cơ chế cho phép thực hiện quyền quản trị tương ứng.
4. Đầu tư bằng việc mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài
Theo quy định, nhà đầu tư Việt Nam có thể thực hiện đầu tư ra nước ngoài thông qua việc mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài. Đây là hình thức đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 135/2015/NĐ-CP), mang bản chất là đầu tư tài chính, trong đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành tổ chức nhận vốn đầu tư mà chủ yếu tìm kiếm lợi nhuận thông qua biến động giá tài sản tài chính hoặc hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư.
Một đặc điểm pháp lý quan trọng của hình thức này là phạm vi chủ thể tham gia bị kiểm soát chặt chẽ. Cụ thể, đối với cá nhân có quốc tịch Việt Nam, pháp luật chỉ cho phép thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài (Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 135/2015/NĐ-CP). Trong khi đó, nhà đầu tư là tổ chức kinh tế tại Việt Nam được phép đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo các phương thức: (i) Tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài; (ii) Ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.
Trong trường hợp tự doanh, tổ chức đầu tư sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện các giao dịch đầu tư tại thị trường nước ngoài. Các tổ chức được phép thực hiện hoạt động bao gồm (Theo Điều 13 Nghị định 135/2015/NĐ-CP): (i) Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; (ii) Quỹ đầu tư chứng khoán thông qua công ty quản lý quỹ (sau đây gọi là quỹ đầu tư chứng khoán), công ty đầu tư chứng khoán; (iii) Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; (iv) Ngân hàng thương mại; (v) Công ty tài chính tổng hợp; (vi) Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Việc giới hạn chủ thể như vậy nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính và kiểm soát dòng vốn ra nước ngoài đối với hình thức đầu tư này.
Trong khi đó, đối với hình thức ủy thác đầu tư, tổ chức kinh tế không trực tiếp thực hiện hoạt động đầu tư mà thông qua việc giao vốn cho các tổ chức nhận ủy thác (thường là các định chế tài chính trung gian) để thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra nguyên tắc phân định rõ giữa hai phương thức này, theo đó tổ chức đã được cấp phép thực hiện tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thì không được đồng thời thực hiện ủy thác đầu tư thông qua tổ chức khác. Quy định này nhằm tránh tình trạng chồng chéo, khó kiểm soát dòng vốn và trách nhiệm quản lý đầu tư.
Có thể thấy, hình thức đầu tư gián tiếp ra nước ngoài mang lại lợi thế về tính linh hoạt, khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư và tiếp cận thị trường tài chính quốc tế mà không cần thiết lập hiện diện thương mại. Tuy nhiên, do chịu sự kiểm soát chặt chẽ về chủ thể, phương thức và điều kiện thực hiện, hình thức này trên thực tế chủ yếu phù hợp với các tổ chức tài chính hoặc nhà đầu tư chuyên nghiệp có năng lực tài chính và kinh nghiệm đầu tư quốc tế.
5. Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư
Bên cạnh các hình thức đầu tư cụ thể đã được liệt kê, pháp luật Việt Nam còn ghi nhận một quy định mang tính “mở”, theo đó nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư ra nước ngoài thông qua các hình thức khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư. Quy định này tạo cơ sở pháp lý linh hoạt, cho phép nhà đầu tư Việt Nam tiếp cận và áp dụng các cấu trúc đầu tư đa dạng, hiện đại theo thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, do không được quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam, việc áp dụng hình thức đầu tư này đòi hỏi nhà đầu tư phải đặc biệt thận trọng trong việc xác định bản chất pháp lý của giao dịch. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ xem xét hồ sơ trên cơ sở tài liệu chứng minh hình thức đầu tư theo pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, từ đó xác định nghĩa vụ pháp lý tương ứng, bao gồm thủ tục cấp phép, quản lý ngoại hối và chế độ báo cáo.
Theo đó để xác định đúng hình thức đầu tư này, nhà đầu tư sẽ cần nộp kèm tài liệu xác định hình thức đầu tư đó theo quy định của pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư.
RSS