Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” là hình thức ghi nhận những cá nhân có nhiều đóng góp cho ngành Giáo dục. Vậy ai được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”? Điều kiện về thời gian công tác và thành tích được quy định như thế nào?
- 1. Ai được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”?
- 1.1. Cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục
- 1.2. Cá nhân ngoài ngành Giáo dục
- 2. Thời gian công tác để xét tặng Kỷ niệm chương được tính thế nào?
- 2.1. Thời gian được cử đi học hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự
- 2.2. Thời gian thi hành quyết định kỷ luật
- 2.3. Thời gian công tác tại vùng đặc biệt khó khăn
- 3. Hồ sơ và thời hạn đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”
- 3.1. Hồ sơ đề nghị xét tặng gồm những giấy tờ gì?
- 3.2. Thời hạn nộp hồ sơ xét tặng Kỷ niệm chương
- 3.3. Ai có thẩm quyền quyết định tặng Kỷ niệm chương?
- 3.4. Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày nào?
1. Ai được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”?
Điều 11 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” (sau đây gọi là Kỷ niệm chương) là hình thức khen thưởng của Bộ Giáo dục và Đào tạo để tặng một lần cho cá nhân trong và ngoài ngành Giáo dục gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo [...]"
Theo đó, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” được xét tặng cho 02 nhóm đối tượng, gồm:
- Cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục từ 20 năm trở lên.
- Cá nhân ngoài ngành Giáo dục đáp ứng một trong các tiêu chuẩn về thời gian giữ chức vụ, đóng góp cho ngành Giáo dục hoặc hợp tác quốc tế về giáo dục.
Đây là hình thức khen thưởng chỉ được tặng một lần cho mỗi cá nhân, không phải danh hiệu được xét tặng định kỳ hằng năm cho cùng một người.
1.1. Cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định đối tượng được xét tặng là:
"Cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục từ 20 năm trở lên."
Như vậy, giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và những người đang công tác trong ngành Giáo dục có thể được xét tặng Kỷ niệm chương khi đáp ứng điều kiện về thời gian công tác và các yêu cầu chung.
Đáng chú ý, quy định không chỉ giới hạn đối tượng là giáo viên trực tiếp giảng dạy mà áp dụng đối với cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục.
Thời gian công tác để xét tặng được xác định theo những quy định riêng tại khoản 1 Điều 11, bao gồm trường hợp được cử đi học, thực hiện nghĩa vụ quân sự, công tác tại vùng đặc biệt khó khăn hoặc có thời gian thi hành quyết định kỷ luật.
1.2. Cá nhân ngoài ngành Giáo dục
Khoản 2 Điều 11 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định cá nhân ngoài ngành Giáo dục được xét tặng khi đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
Thứ nhất, cá nhân giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc phụ trách công tác giáo dục, gồm
- Cá nhân giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ 05 năm trở lên;
- Hoặc cá nhân được giao phụ trách công tác giáo dục và đào tạo tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã, có thời gian công tác trong ngành Giáo dục từ 05 năm trở lên.
Đồng thời, cá nhân phải có nhiều đóng góp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, góp phần vào sự phát triển của ngành Giáo dục.
Thứ hai, cá nhân có nhiều đóng góp thiết thực cho ngành Giáo dục.
Gồm cá nhân có nhiều đóng góp trong:
- Tham gia xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách;
- Tổ chức hoạt động thiết thực, hiệu quả cho sự phát triển của ngành Giáo dục;
- Hỗ trợ tài chính, hiện vật hoặc nguồn lực khác cho sự phát triển ngành Giáo dục.
Các đóng góp này phải được cơ quan, đơn vị thụ hưởng xác nhận và đề nghị.
Thứ ba, người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có đóng góp cho giáo dục Việt Nam, gồm:
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Người Việt Nam làm việc cho tổ chức nước ngoài tại Việt Nam;
- Người nước ngoài.
Những cá nhân này phải có đóng góp tích cực vào việc xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Việt Nam hoặc tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế về giáo dục.
Như vậy, người không trực tiếp công tác trong ngành Giáo dục vẫn có thể được xét tặng Kỷ niệm chương, nếu đáp ứng một trong các tiêu chuẩn nêu trên.
2. Thời gian công tác để xét tặng Kỷ niệm chương được tính thế nào?

Đối với cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục, thời gian công tác là một trong những căn cứ quan trọng để xét tặng Kỷ niệm chương.
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định cụ thể những trường hợp được tính, không được tính và được nhân hệ số thời gian công tác. Cụ thể như sau:
2.1. Thời gian được cử đi học hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự
Trường hợp cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục được cơ quan có thẩm quyền cử đi học hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, sau đó tiếp tục công tác trong ngành Giáo dục thì thời gian đi học hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự được tính là thời gian công tác trong ngành Giáo dục để xét tặng Kỷ niệm chương.
2.2. Thời gian thi hành quyết định kỷ luật
Thời gian thi hành quyết định kỷ luật không được tính vào thời gian công tác để xét tặng Kỷ niệm chương.
Theo đó, khi tính đủ 20 năm công tác để xét tặng, phải loại trừ thời gian cá nhân thi hành quyết định kỷ luật.
Ví dụ: Một cá nhân có tổng thời gian công tác trong ngành Giáo dục là 20 năm, trong đó có 01 năm thi hành quyết định kỷ luật, thì thời gian được tính để xét tặng là 19 năm.
Đây là ví dụ minh họa cách tính theo quy định.
2.3. Thời gian công tác tại vùng đặc biệt khó khăn
Quy định:
"Thời gian cá nhân công tác trong ngành Giáo dục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ được nhân hệ số 2 khi tính thời gian công tác để xét Kỷ niệm chương."
Như vậy, thời gian làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tính gấp đôi khi xét tặng.
Công thức tính thời gian công tác trong trường hợp này:
Tổng thời gian xét tặng = Thời gian công tác ở vùng không thuộc diện đặc biệt khó khăn + (Thời gian công tác ở vùng đặc biệt khó khăn × 2) − Thời gian thi hành quyết định kỷ luật phải loại trừ.
Ví dụ: Một giáo viên công tác 08 năm tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và 04 năm tại địa bàn khác, không có thời gian thi hành quyết định kỷ luật.
Thời gian được tính để xét tặng:
08 × 2 + 04 = 20 năm.
Như vậy, giáo viên này đáp ứng điều kiện về thời gian công tác để được xem xét tặng Kỷ niệm chương.
Lưu ý, việc xác định vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn phải căn cứ quy định của Thủ tướng Chính phủ, không áp dụng hệ số 2 cho mọi địa bàn có điều kiện khó khăn.
3. Hồ sơ và thời hạn đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”
Bên cạnh tiêu chuẩn xét tặng, Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT còn quy định thành phần hồ sơ, thời hạn nộp và thẩm quyền xem xét, quyết định tặng Kỷ niệm chương.
3.1. Hồ sơ đề nghị xét tặng gồm những giấy tờ gì?
Khoản 4 Điều 18 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định hồ sơ đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương gồm:
|
Thành phần hồ sơ |
Mẫu áp dụng |
|
Tờ trình đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương |
|
|
Danh sách đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương |
|
|
Bản tóm tắt thành tích của cá nhân trong ngành Giáo dục |
|
|
Bản tóm tắt thành tích của cá nhân ngoài ngành Giáo dục |
|
|
Xác nhận của cơ quan, đơn vị thụ hưởng thành tích |
Áp dụng đối với cá nhân theo điểm b khoản 2 Điều 11 |
Như vậy, đối với bản tóm tắt thành tích, cá nhân trong ngành Giáo dục sử dụng Mẫu số 08, còn cá nhân ngoài ngành sử dụng Mẫu số 09.
Theo khoản 2 Điều 18, hồ sơ đề nghị khen thưởng thuộc thẩm quyền Bộ Giáo dục và Đào tạo được lập thành 01 bộ bản chính, đồng thời gửi các tệp điện tử định dạng Word và PDF về Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, trừ văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước.
3.2. Thời hạn nộp hồ sơ xét tặng Kỷ niệm chương
Điểm đ khoản 5 Điều 18 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Đối với khen thưởng Kỷ niệm chương: Hồ sơ đề nghị khen thưởng gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 31 tháng 12 hằng năm."
Như vậy, cơ quan, đơn vị đề nghị phải gửi hồ sơ xét tặng Kỷ niệm chương về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 31/12 hằng năm.
3.3. Ai có thẩm quyền quyết định tặng Kỷ niệm chương?
Theo Điều 15, Điều 16 và Điều 17 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT, việc đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương được thực hiện thông qua các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền, tùy thuộc đối tượng được đề nghị.
Trong đó:
- Người đứng đầu đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện trình xét tặng theo thẩm quyền.
- Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo trình hoặc đề nghị xét tặng đối với các đối tượng thuộc phạm vi quy định tại Điều 16.
- Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh đề nghị xét tặng đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là người xem xét, quyết định tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”.
3.4. Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày nào?
Khoản 1 Điều 26 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định:
"Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2026 và thay thế Thông tư số 07/2026/TT-BGDĐT [...]"
Như vậy, Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, thay thế Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT.
Đối với hồ sơ đã gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 01/10/2026, khoản 3 Điều 26 quy định tiếp tục áp dụng Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT. Tuy nhiên, nếu áp dụng quy định mới có lợi hơn cho người được khen thưởng thì áp dụng Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT.
Như vậy, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” được xét tặng một lần cho cá nhân trong và ngoài ngành Giáo dục có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Người đang công tác trong ngành phải có thời gian công tác từ 20 năm trở lên theo cách tính quy định; người ngoài ngành được xem xét theo các tiêu chuẩn tại khoản 2 Điều 11 Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT.
Trên đây là nội dung về ai được xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT cùng các Phụ lục kèm theo trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ tiêu chuẩn, cách tính thời gian công tác, hồ sơ và thủ tục xét tặng.
RSS