Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm hình phạt đã tuyên đối với người vi phạm đất đai như thế nào?

Việc giảm hình phạt đã tuyên được xem xét theo mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại và từng trường hợp cụ thể của người bị kết án. Vậy Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm hình phạt đã tuyên đối với người vi phạm đất đai như thế nào?

1. Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm hình phạt đã tuyên đối với người vi phạm đất đai như thế nào?

Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù mà chưa khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại, Tòa án xem xét giảm hình phạt đã tuyên theo tỷ lệ khắc phục. Mức giảm tối đa thông thường từ 1/4 đến 4/5; trường hợp đã khắc phục một phần mà lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo có mức giảm tối đa đến 9/10 mức hình phạt đã tuyên.

Quy định này yêu cầu Tòa án căn cứ vào hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước và mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại tại thời điểm xem xét để quyết định. Chủ thể chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại được nêu trong quy định gồm người bị kết án, tổ chức, cá nhân liên quan.

Đối với người bị kết án đã khắc phục được một phần hậu quả thiệt hại, điểm a khoản 4 Điều 6 dẫn đến các mức giảm tại khoản 5 Điều 5. Cụ thể:

  • Đã khắc phục đến 1/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 1/4 mức hình phạt;
  • Đã khắc phục từ trên 1/4 đến 1/2 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 1/2 mức hình phạt;
  • Đã khắc phục từ trên 1/2 đến 3/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 2/3 mức hình phạt;
  • Đã khắc phục từ trên 3/4 đến dưới toàn bộ hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 4/5 mức hình phạt.

Các mức trên được quy định theo hướng “có thể được giảm tối đa”. Mức giảm cụ thể do Tòa án xem xét, quyết định trên cơ sở hiệu quả kinh tế - xã hội và mức độ khắc phục tại thời điểm xem xét, không mặc nhiên áp dụng mức tối đa chỉ dựa vào tỷ lệ đã khắc phục.

Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm hình phạt đã tuyên đối với người vi phạm đất đai như thế nào?
Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm hình phạt đã tuyên đối với người vi phạm đất đai như thế nào? (Ảnh minh họa)

2. Người lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được xem xét giảm thế nào?

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định mức giảm riêng đối với người bị kết án đã khắc phục được một phần hậu quả thiệt hại mà lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.

Với trường hợp này, việc xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vẫn đặt trong điều kiện chung của khoản 4: Đã hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù nhưng chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại.

Các mức giảm được quy định như sau:

  • Đã khắc phục đến 1/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 1/3 mức hình phạt đã tuyên;
  • Đã khắc phục từ trên 1/4 đến 1/2 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 2/3 mức hình phạt đã tuyên;
  • Đã khắc phục từ trên 1/2 đến 3/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 3/4 mức hình phạt đã tuyên;
  • Đã khắc phục từ trên 3/4 đến dưới toàn bộ hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 9/10 mức hình phạt đã tuyên.

Điểm b khoản này yêu cầu đồng thời có việc đã khắc phục một phần hậu quả thiệt hại và thuộc một trong các trường hợp lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Đây là điều kiện gắn với các mức giảm riêng nêu trên.

3. Không có điều kiện khắc phục thiệt hại có được giảm hình phạt không?

Bên cạnh trường hợp đã khắc phục một phần hậu quả thiệt hại, khoản 6 Điều 6 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định việc xem xét giảm đối với người đang chấp hành hình phạt tù nhưng không có điều kiện khắc phục, cụ thể:

“Người đang chấp hành hình phạt tù có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 29/2026/QH16 nhưng không có điều kiện để khắc phục hậu quả thiệt hại thì Tòa án căn cứ tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và tình tiết khác để xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng tối đa không quá một phần tư mức hình phạt đã tuyên.”

Cũng tại khoản này, trường hợp không có điều kiện để khắc phục hậu quả thiệt hại được xác định là:

“Người đang chấp hành hình phạt tù không có tài sản, thu nhập, nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện việc khắc phục hậu quả thiệt hại hoặc tổ chức, cá nhân liên quan không khắc phục hậu quả thiệt hại cho người đang chấp hành hình phạt tù.”

Đối với trường hợp có khả năng khắc phục nhưng không thực hiện, khoản 7 Điều 6 quy định:

“Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai có khả năng, điều kiện để khắc phục hậu quả thiệt hại nhưng không khắc phục hậu quả thiệt hại thì không xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16.”

4. Việc giảm hình phạt đã tuyên phải tuân theo phạm vi, thủ tục nào?

4.1. Phạm vi áp dụng cơ chế đặc thù

Căn cứ quy định tại Điều 1 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP xác định phạm vi hướng dẫn là một số cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Nghị quyết 29/2026/QH16. Cơ chế này liên quan đến xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Với vụ án có nhiều hành vi hoặc nhiều người, khoản 3 và khoản 4 Điều 2 giới hạn việc áp dụng như sau:

  • Một người thực hiện nhiều hành vi và bị xét xử trong cùng một vụ án: Chỉ áp dụng hai Nghị quyết đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nếu có đủ căn cứ; hành vi vi phạm khác được xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Một vụ án có nhiều bị can, bị cáo: Chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nếu có đủ căn cứ; các bị can, bị cáo khác được xử lý theo quy định của pháp luật.

Riêng khoản 2 Điều 2 quy định trường hợp vụ việc thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16 mà dự án, công trình đã hoàn thành nhưng chưa khắc phục hậu quả thiệt hại.

Trong trường hợp này, Tòa án không áp dụng việc tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Điều 8 và Điều 9 Nghị quyết 29/2026/QH16. Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử, thi hành án theo pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án.

4.2. Thủ tục xem xét và trách nhiệm triển khai

Về thủ tục giảm mức hình phạt đã tuyên, khoản 5 Điều 6 quy định việc xem xét, trình tự, thủ tục thực hiện theo pháp luật về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự.

Về trách nhiệm áp dụng, khoản 2 Điều 8 yêu cầu các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, xem xét, quyết định áp dụng hai Nghị quyết khi có đủ căn cứ.

Quy định này đồng thời yêu cầu khẩn trương rà soát các bản án có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024 để thực hiện Nghị quyết 29/2026/QH16.

Trên đây là nội dung thông tin về Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm hình phạt đã tuyên đối với người vi phạm đất đai như thế nào. Bạn đọc tham khảo thêm toàn văn Nghị quyết và các thông tin pháp luật liên quan trên LuatVietnam.vn.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?

Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?

Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?

Thẩm quyền quyết định được xác định riêng cho từng biện pháp và tình trạng chấp hành hình phạt. Vậy Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?