Việc thay đổi vị trí việc làm của viên chức được thực hiện dựa trên nhiều căn cứ, điều kiện nào? Theo đó, viên chức có được chuyển vị trí việc làm theo nguyện vọng cá nhân không? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp thắc mắc trên?
1. Viên chức có được chuyển vị trí việc làm theo nguyện vọng cá nhân?
Thay đổi vị trí việc làm là việc viên chức được bố trí từ vị trí việc làm này sang vị trí việc làm khác trong danh mục vị trí việc làm được sử dụng trong đơn vị.
Theo khoản 2 Điều 26 Nghị định 259 2026 NĐ-CP, viên chức được chuyển đổi vị trí việc làm trong các trường hợp sau:
(1) Viên chức được bổ nhiệm vào vị trí việc làm quản lý hoặc được bổ nhiệm vào vị trí việc làm quản lý cao hơn hoặc thấp hơn; viên chức không được bổ nhiệm lại hoặc thôi giữ chức vụ quản lý theo quyết định của cấp có thẩm quyền về công tác cán bộ.
(2) Viên chức được bố trí sang vị trí việc làm chuyên môn nghiệp vụ khác hoặc vị trí việc làm hỗ trợ khác so với vị trí việc làm hiện giữ.
(3) Thay đổi do sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập.
Đồng thời, việc thay đổi vị trí của viên chức được dựa trên các căn cứ sau:
- Danh mục vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Kế hoạch sắp xếp nhân sự theo vị trí việc làm của đơn vị;
- Nhu cầu của cá nhân viên chức;
- Tiêu chuẩn, điều kiện của viên chức đáp ứng với yêu cầu của vị trí việc làm.
Như vậy, viên chức có thể được xem xét thay đổi vị trí việc làm theo nguyện vọng cá nhân. Tuy nhiên, việc thay đổi vị trí việc làm không chỉ căn cứ vào nhu cầu của viên chức mà còn phải phù hợp với danh mục vị trí việc làm đã được phê duyệt, kế hoạch sắp xếp nhân sự của đơn vị; tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm mới và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cho phép.
Mặt khác, việc thay đổi vị trí việc làm phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng và đúng thẩm quyền.

2. Điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức
Theo Điều 6 Nghị định 259/2026/NĐ-CP, người đăng ký dự tuyển viên chức phải đáp ứng các điều kiện theo Điều 19 Luật Viên chức 2025, trong đó có các yêu cầu cơ bản sau:
- Có 01 quốc tịch Việt Nam;
- Đang cư trú tại Việt Nam;
- Từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ trường hợp pháp luật về ngành, lĩnh vực có quy định khác đối với ngành, nghề đặc thù;
- Có đăng ký dự tuyển;
- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt và lý lịch rõ ràng;
- Có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ;
- Đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và các tiêu chuẩn, điều kiện khác về hoạt động nghề nghiệp.
Riêng người đăng ký vào vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao có thể chưa đủ 18 tuổi nhưng phải từ đủ 15 tuổi và được người đại diện theo pháp luật đồng ý bằng văn bản.
3. Viên chức được thay đổi vị trí việc làm từ thấp lên cao khi nào?
Căn cứ vào khoản 4 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP, viên chức được xem xét thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm từ thấp lên cao khi đáp ứng đủ 05 điều kiện sau:
Thứ nhất, khi đơn vị sự nghiệp công lập có nhu cầu sử dụng viên chức ở bậc nghề cao hơn.
Thứ hai, khi còn số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ ba, là người được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề trước năm thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.
Thứ tư là người không trong thời hạn xử lý kỷ luật; không đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật; không đang trong thời gian bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; không đang trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật theo quy định của Đảng và của pháp luật.
Thứ năm, người được xem xét thay đổi phải có kết quả thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của bậc nghề nghiệp dự kiến bố trí theo tiêu chí đánh giá khi thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm quy định.
Trên đây là thông tin liên quan đến việc “Viên chức có được chuyển vị trí việc làm theo nguyện vọng cá nhân?” theo Nghị định 259/2026/NĐ-CP…
RSS