Theo Điều 23 Luật Viên chức 2025, vị trí việc làm được xác định căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; mức độ phức tạp, tính chất, quy mô hoạt động; chuyên môn, nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực và điều kiện ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
Mỗi vị trí việc làm phải xác định rõ tên gọi, bản mô tả công việc và khung năng lực, đồng thời được phân thành 03 nhóm gồm vị trí việc làm quản lý, vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ.

Để triển khai quy định này, khoản 6 Điều 11 Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định quyết định phê duyệt vị trí việc làm là căn cứ để đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý viên chức. Đồng thời, việc tuyển dụng và bố trí viên chức phải đúng danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm và tỷ lệ viên chức theo từng bậc nghề nghiệp đã được phê duyệt.
So với quy định trước đây, Luật Viên chức 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019) cũng đã quy định việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và hợp đồng làm việc (khoản 3 Điều 6), đồng thời xác định vị trí việc làm là căn cứ để xác định số lượng người làm việc và cơ cấu viên chức (Điều 7).
Tuy nhiên, Luật năm 2010 chưa quy định cụ thể về căn cứ xác định vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực, phân loại vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp của từng vị trí như Luật Viên chức 2025.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, việc quản lý viên chức được hoàn thiện theo hướng lấy vị trí việc làm làm trung tâm.
Bên cạnh việc xác định số lượng và cơ cấu viên chức, mỗi vị trí việc làm phải được xây dựng bản mô tả công việc, khung năng lực và bậc nghề nghiệp để làm căn cứ tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá viên chức phù hợp với yêu cầu công việc.
RSS