
Theo đó, tại Điều 23 Nghị định 167/2026/NĐ-CP quy định văn bản yêu cầu dẫn độ của Việt Nam phải được lập theo biểu mẫu của Bộ Công an và phải có chữ ký của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan yêu cầu dẫn độ và đóng dấu của cơ quan yêu cầu dẫn độ.
So với trước đây, đây là một điểm mới, bởi chưa có các văn bản nào quy định riêng biệt và cụ thể cho trường hợp yêu cầu dẫn độ.
Bên cạnh đó, văn bản yêu cầu dẫn độ phải ghi rõ mục đích của yêu cầu dẫn độ là để truy cứu trách nhiệm hình sự hay để thi hành án.
Ngoài ra, trong văn bản yêu cầu dẫn độ phải nêu được các thông tin sau:
- Ngày, tháng, năm lập yêu cầu;
- Tên cơ quan, địa chỉ của cơ quan yêu cầu và cơ cơn được yêu cầu dẫn độ;
- Thông tin về nhân thân người bị yêu cầu dẫn độ;
- Tóm tắt nội dung vụ án nêu trong văn bản yêu cầu dẫn độ;
- Nội dung đề nghị của Việt Nam đối với nước được yêu cầu dẫn độ;
- Cam kết của Việt Nam đối với nước được yêu cầu dẫn độ.
Mặt khác, việc dẫn độ cần đáp ứng các điều kiện và cam kết thực hiện nêu tại Điều 14 Nghị định 167/2026/NĐ-CP, như:
- Các thông tin và tài liệu nêu trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ là chính xác, đúng sự thật; được thu thập và ban hành đúng thẩm quyền, tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật của nước yêu cầu dẫn độ.
- Người có tên trong các quyết định tố tụng hình sự chính là người đã thực hiện hành vi phạm tội bị nêu trong yêu cầu dẫn độ.
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án đối với người bị yêu cầu dẫn độ.
- Người bị yêu cầu dẫn độ không được miễn trách nhiệm hình sự, không được miễn chấp hành hình phạt…
RSS