
Theo khoản 1 Điều 34 Thông tư 95/2026/TT-BTC, trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của một Bên ký kết có thu nhập từ hoạt động làm công tại Việt Nam thì Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 34 Thông tư 95/2026/TT-BTC quy định, nếu cá nhân đồng thời đáp ứng đủ 03 điều kiện dưới đây thì tiền công từ công việc thực hiện tại Việt Nam chỉ bị đánh thuế tại nước nơi cá nhân đó là đối tượng cư trú, không bị đánh thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam:
-
Cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai đoạn 12 tháng bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tính thuế;
-
Chủ lao động không phải là đối tượng cư trú của Việt Nam và tiền công không do một đối tượng cư trú của Việt Nam chịu;
-
Tiền công không do một cơ sở thường trú mà chủ lao động có tại Việt Nam chi trả.
Như vậy, quy định này không áp dụng cho mọi người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, mà áp dụng đối với cá nhân là đối tượng cư trú của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam và đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên. Trường hợp thiếu một trong 03 điều kiện, Việt Nam có quyền đánh thuế đối với tiền lương, tiền công phát sinh từ công việc được thực hiện tại Việt Nam.
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 34 Thông tư 95/2026/TT-BTC, khi xác định chủ lao động thực sự, cơ quan thuế xem xét các yếu tố như: đối tượng có quyền đối với sản phẩm do người lao động tạo ra; chịu trách nhiệm và rủi ro đối với lao động; đưa ra hướng dẫn, cung cấp phương tiện lao động; kiểm soát địa điểm làm việc; trả tiền công và quyết định số lượng, chất lượng người lao động.
RSS