Từ 01/01/2022, chính thức thay đổi cách tính thuế cho thuê nhà

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 100/2021/TT-BTC ngày 15/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2021/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Theo đó, Thông tư 100/2021 sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư 40/2021 như sau:

“c) Cá nhân chỉ có hoạt động cho thuê tài sản và thời gian cho thuê không trọn năm, nếu phát sinh doanh thu cho thuê từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thì thuộc diện không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN. Trường hợp bên thuê trả tiền thuê tài sản trước cho nhiều năm thì mức doanh thu để xác định cá nhân phải nộp thuế hay không phải nộp thuế là doanh thu trả tiền một lần được phân bổ theo năm dương lịch.”

Trong khi đó, Thông tư 40/2021 hướng dẫn như sau:

Cá nhân cho thuê tài sản không phát sinh doanh thu đủ 12 tháng trong năm dương lịch (bao gồm cả trường hợp có nhiều hợp đồng cho thuê) thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân cho thuê tài sản không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN là doanh thu tính thuế TNCN của một năm dương lịch (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh cho thuê tài sản.

thay doi cach tinh thue cho thue nha
Từ 01/01/2021, chính thức thay đổi cách tính thuế cho thuê nhà (Ảnh minh họa)

Như vậy, so với quy định tại Thông tư cũ, Thông tư 100/2021 đã nêu cụ thể đối tượng có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT, TNCN là cá nhân chỉ cho thuê và có thời gian cho thuê không trọn năm.

Riêng trường hợp người thuê nhà được bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu sẽ tính theo số tiền trả một lần cho năm dương lịch đó. Nếu dưới 100 triệu đồng/năm thì sẽ không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN.

Đồng thời, cách tính thuế này không còn dựa vào doanh thu dự kiến của năm dương lịch mà quy định cụ thể đối tượng cho thuê nhà không phải nộp thuế GTGT, TNCN nêu trên.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

Nếu còn thắc mắc, độc giả vui lòng liên hệ 1900.6192 để được hỗ trợ, giải đáp.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(2 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Công văn 3141/BGDĐT-NGCBQLGD: Yêu cầu rà soát việc bổ nhiệm và xếp lương giáo viên mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên

Công văn 3141/BGDĐT-NGCBQLGD: Yêu cầu rà soát việc bổ nhiệm và xếp lương giáo viên mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên

Công văn 3141/BGDĐT-NGCBQLGD: Yêu cầu rà soát việc bổ nhiệm và xếp lương giáo viên mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn 3141/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 29/5/2026 về rà soát công tác bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương giáo viên ở tất cả các cấp học từ mầm non, phổ thông đến giáo dục thường xuyên. 

Hướng dẫn thực hiện chế độ cho cán bộ, công chức, viên chức vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030

Hướng dẫn thực hiện chế độ cho cán bộ, công chức, viên chức vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030

Hướng dẫn thực hiện chế độ cho cán bộ, công chức, viên chức vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030

Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội vừa có Công văn số 1030/CTL&BHXH-TLKVC ngày 02/6/2026 gửi Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng, hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh

Ngày 03/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn 596/TTg-CĐS, yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục thực hiện các biện pháp phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) và điều kiện kinh doanh (ĐKKD).