Đây là nội dung đáng chú ý quy định tại Thông tư 78/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 203/2014/TT-BTC về hướng dẫn xử lý hàng hóa tồn đọng thuộc địa bàn hoạt động hải quan, ban hành ngày 30/6/2026.

Cụ thể, tại điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư 203 2014 TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 2 Thông tư 78 2026 TT BTC quy định:
Điều 5. Xác định hàng hóa mà chủ hàng hóa tuyên bố từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ
…
2. Hàng hóa mà chủ hàng hóa thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ là hàng hóa thuộc đối tượng giám sát hải quan thuộc địa bàn hoạt động hải quan mà chủ hàng không đến nhận hoặc không có phản hồi trong thời hạn thông báo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
Việc xác định chủ hàng hóa thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ tại một số địa bàn hoạt động hải quan đặc thù được thực hiện như sau:
a) Đối với hàng hóa trong kho ngoại quan:
Chậm nhất là 15 ngày, trước ngày hợp đồng thuê kho ngoại quan hoặc hợp đồng gia hạn thuê kho ngoại quan hết hạn, chủ kho ngoại quan có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho chủ hàng hóa biết về hợp đồng thuê kho hoặc hợp đồng gia hạn thuê kho sắp hết hạn để chủ hàng làm thủ tục đưa hàng hóa ra khỏi kho ngoại quan;
Quá thời hạn 90 ngày, kể từ ngày hết hạn hợp đồng thuê kho ngoại quan hoặc hàng hóa hết hạn hợp đồng gia hạn thuê kho ngoại quan mà chủ hàng hóa không đưa hàng hóa ra khỏi kho ngoại quan thì hàng hóa đó được xác định là hàng hóa mà chủ hàng thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ.
…
Theo đó, chậm nhất 15 ngày trước khi hợp đồng thuê kho ngoại quan hoặc hợp đồng gia hạn thuê kho hết hạn, chủ kho ngoại quan phải thông báo bằng văn bản cho chủ hàng để thực hiện thủ tục đưa hàng hóa ra khỏi kho.
Đáng chú ý, nếu quá 90 ngày kể từ ngày hết hạn hợp đồng thuê kho ngoại quan hoặc hợp đồng gia hạn thuê kho ngoại quan mà chủ hàng vẫn không đưa hàng hóa ra khỏi kho thì hàng hóa được xác định là hàng hóa mà chủ hàng thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định đối với hàng hóa tại doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính, thời hạn để chủ hàng đến nhận là 90 ngày kể từ ngày thông báo lần đầu; hết thời hạn này mà chủ hàng không đến nhận hoặc không hồi đáp thì được xác định là thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ.
Đối với hàng hóa, hành lý tại cảng hàng không, thời hạn thông báo là 60 ngày đối với hàng hóa và 30 ngày đối với hành lý. Hết thời hạn thông báo mà không có người đến nhận hoặc không hồi đáp thì hàng hóa, hành lý cũng được xác định là hàng hóa mà chủ hàng thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ.
Thông tư 78/2026/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
RSS