
Theo điểm a khoản 1 Điều 6 dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2026, quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính từ 01 năm đến 03 năm, trừ trường hợp vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập hoặc về lĩnh vực khác mà chuyên ngành quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì áp dụng thời hiệu theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.
Trong khi đó, tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi bởi Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm.
Như vậy, so với luật hiện hành, dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính 2026 đang đề xuất nâng thời hiệu xử phạt tối đa từ 01 năm lên 03 năm.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng quy định rõ thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như sau:
- Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
- Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
Ngoài ra, tại điểm d khoản 1 Điều 6 dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính, trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc phạt.
Mặt khác, trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu xử phạt có thể kéo dài thêm 01 năm. Đồng thời, thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét, kể cả thời gian tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án cũng được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
RSS