Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Nghị định 326 2026 NĐ CP quy định dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ và khai thác nhằm phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội. Việc chia sẻ, khai thác phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền.
Đáng chú ý, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính không được yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ nếu các thông tin trong thành phần hồ sơ đó đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định, Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm chứa nhiều nhóm thông tin như:
- Mã định danh; đối tượng định danh;
- Địa chỉ;
- Lối tiếp cận;
- Mã bưu chính;
- Tọa độ;
- Thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có;
- Trạng thái hoạt động;
- Tên địa điểm;
- Thông tin kết cấu;
- Dữ liệu không gian ba chiều;
- Dấu hiệu nhận biết và thông tin về chủ sở hữu, người sử dụng địa điểm.
Cơ sở dữ liệu này được xây dựng tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Theo khoản 1 Điều 6, dữ liệu phục vụ định danh địa điểm được thu thập, tạo lập từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương.
Điểm a khoản 3 Điều 6 yêu cầu cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu gốc phải thường xuyên, kịp thời cập nhật dữ liệu ngay khi có biến động và đồng bộ với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Trường hợp thông tin bị sai, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền phản ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước theo điểm c khoản 3 Điều này.
Như vậy, quy định mới không đồng nghĩa với việc mọi loại giấy tờ đều được bãi bỏ. Việc không phải cung cấp lại chỉ áp dụng khi thông tin trong thành phần hồ sơ đã tồn tại trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm và cơ quan có thẩm quyền có thể kết nối, khai thác theo quy định.
RSS