Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 326 2026 NĐ CP, định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.
Đối tượng được định danh gồm thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh, các cấu trúc vật lý và những đối tượng khác quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định quy định mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm tính liên tục, ổn định và không trùng lặp trong toàn hệ thống. Sau khi được tạo lập và gắn cho một đối tượng cụ thể, mã định danh địa điểm phải có tính ổn định lâu dài.

Đáng chú ý, theo Điều 4 Nghị định 326/2026/NĐ-CP, mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm khả năng mở rộng, liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Dữ liệu dùng để cấp mã được kế thừa từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Theo khoản 3 Điều 3, việc định danh không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định pháp luật.
Phụ lục kèm theo Nghị định liệt kê 71 đối tượng cụ thể thuộc các nhóm như thửa đất, trụ sở cơ quan nhà nước, đường bộ, cầu, hầm, ga đường sắt, cảng hàng không, bến cảng, công trình tôn giáo, nguồn nước, đê điều và công trình xử lý chất thải. Riêng các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
RSS