Theo điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Hải quan sửa đổi 2026, số 11/2026/QH16 khoản 9 Điều 4 Luật Hải quan 2014 về khái niệm kho bảo thuế bị bãi bỏ. Theo quy định trước đây, kho bảo thuế là kho dùng để chứa nguyên liệu, vật tư nhập khẩu đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế để sản xuất hàng hóa xuất khẩu của chủ kho bảo thuế.
Cùng với việc bãi bỏ khái niệm, điểm k khoản 31 Điều 1 Luật số 11/2026/QH16 bỏ cụm từ “kho bảo thuế” tại điểm a khoản 1 Điều 7 về địa bàn hoạt động hải quan và điểm đ khoản 3 Điều 22 về địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa.

Đặc biệt, khoản 32 Điều 1 Luật số 11/2026/QH16 bãi bỏ toàn bộ Điều 47 Luật Hải quan. Điều 47 Luật Hải quan 2014 là căn cứ quy định về điều kiện thành lập, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh kho bảo thuế.
Kho bảo thuế cũng được loại khỏi Mục 5 Chương III. Theo khoản 17 Điều 1 Luật mới, Mục 5 chỉ còn quy định việc kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa tại kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế và địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Đối với các trường hợp đang tồn tại, khoản 1 Điều 4 Luật số 11/2026/QH16 quy định chuyển tiếp đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã nhập kho bảo thuế và còn tồn sau thời điểm Luật có hiệu lực. Số hàng hóa này tiếp tục được thực hiện theo quy định tại Mục 5 Chương III Luật Hải quan 2014 trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 01/3/2027.
Có thể thấy từ 01/3/2027, Luật mới bãi bỏ cả khái niệm, căn cứ thành lập và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với kho bảo thuế. Doanh nghiệp còn nguyên liệu, vật tư trong kho bảo thuế tại thời điểm Luật có hiệu lực chỉ được tiếp tục thực hiện theo quy định cũ trong thời hạn chuyển tiếp 06 tháng.
RSS