4 nhóm hành vi bị cấm khi sử dụng thẻ Đảng viên từ 09/02/2026

Nội dung này được quy định tại Quy định 06-QĐ/TW của Ban Bí thư về quản lý và sử dụng thẻ Đảng viên, ban hành ngày 09/02/2026.

Theo Điều 4 Quy định 06-QĐ/TW, Đảng viên có trách nhiệm quản lý, sử dụng thẻ đúng mục đích, đúng quy định; đồng thời tuyệt đối không thực hiện các hành vi bị cấm sau đây:

1 - Cho mượn, sử dụng thẻ trái phép

Đảng viên không được cho người khác mượn hoặc sử dụng thẻ Đảng viên dưới bất kỳ hình thức nào.

2 - Lợi dụng thẻ Đảng viên để trục lợi

Nghiêm cấm việc dùng thẻ Đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay mượn tiền hoặc tài sản.

3 - Đăng tải hình ảnh thẻ sai mục đích

Đảng viên không được đăng tải hình ảnh thẻ Đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc sử dụng hình ảnh thẻ không phải của mình.

4 - Tự ý hủy thẻ Đảng viên

Đảng viên không được tự ý hủy thẻ trong bất kỳ trường hợp nào.

4 nhóm hành vi bị cấm khi sử dụng thẻ Đảng viên từ 09/02/2026
4 nhóm hành vi bị cấm khi sử dụng thẻ Đảng viên từ 09/02/2026 (Ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, Quy định 06-QĐ/TW cũng nêu rõ:

- Nếu thẻ bị sai thông tin, hỏng hoặc mất, Đảng viên phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với chi bộ, cấp uỷ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị cấp lại.

- Trường hợp xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên hoặc đưa ra khỏi Đảng bằng hình thức khác, Đảng viên phải nộp lại thẻ cho chi bộ.

- Khi Đảng viên từ trần, gia đình được giữ lại thẻ nhưng không được sử dụng trái quy định.

- Nếu phát hiện thẻ của Đảng viên khác bị thất lạc hoặc bị sử dụng sai quy định, phải báo cáo ngay cho cấp uỷ, chi bộ để xử lý.

Ngoài trách nhiệm của Đảng viên, Điều 5 Quy định 06-QĐ/TW cũng xác định rõ trách nhiệm của chi bộ, cấp uỷ cơ sở trong việc quán triệt, hướng dẫn, kiểm tra định kỳ việc quản lý, sử dụng thẻ; tiếp nhận, xác minh các trường hợp vi phạm; thu hồi thẻ khi cần thiết; thực hiện nghiệp vụ phát, quản lý thẻ theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và báo cáo theo quy định.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(3 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Trường nội trú, bán trú từ 40 lớp được bố trí tối đa 2 kế toán sau sắp xếp

Trường nội trú, bán trú từ 40 lớp được bố trí tối đa 2 kế toán sau sắp xếp

Trường nội trú, bán trú từ 40 lớp được bố trí tối đa 2 kế toán sau sắp xếp

Theo Nghị quyết 37/2026/NQ-CP, vị trí kế toán được bố trí dùng chung cho cơ sở giáo dục sau sắp xếp. Riêng trường thuộc loại hình có học sinh nội trú, bán trú có quy mô từ 40 lớp trở lên được bố trí tối đa 02 người làm kế toán.

Việt Nam đặt mục tiêu có ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược đến năm 2030

Việt Nam đặt mục tiêu có ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược đến năm 2030

Việt Nam đặt mục tiêu có ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược đến năm 2030

Đây là một trong những mục tiêu cụ thể của Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1493/QĐ-TTg ngày 06/8/2026, có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Nghị quyết 37/2026/NQ-CP: Một người có thể kiêm nhiệm nhiều vị trí hỗ trợ giáo dục sau sắp xếp trường học

Nghị quyết 37/2026/NQ-CP: Một người có thể kiêm nhiệm nhiều vị trí hỗ trợ giáo dục sau sắp xếp trường học

Nghị quyết 37/2026/NQ-CP: Một người có thể kiêm nhiệm nhiều vị trí hỗ trợ giáo dục sau sắp xếp trường học

Theo Nghị quyết 37 2026 NQ CP, căn cứ quy mô và điều kiện thực tế, một người có thể được bố trí đảm nhận một hoặc nhiều vị trí việc làm hỗ trợ giáo dục sau khi sắp xếp cơ sở giáo dục

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược

Ngày 06/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.