Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi phát hiện hồ sơ đã nộp có sai sót. Việc khai bổ sung được thực hiện theo quy định tại Điều 12 Luật Quản lý thuế 2025 và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Đáng chú ý, khoản 2 Điều 12 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định thời hạn khai bổ sung là 05 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai sót. Sau thời hạn này, người nộp thuế không được thực hiện khai bổ sung đối với hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Cũng theo Điều 12 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, khi thực hiện khai bổ sung, người nộp thuế phải lập hồ sơ khai bổ sung theo quy định và gửi đến cơ quan thuế bằng phương thức điện tử hoặc phương thức khác theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế sau khi khai bổ sung, Điều 13 Luật Quản lý thuế 2025 quy định, trường hợp việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số tiền thuế được hoàn, giảm số thuế còn được khấu trừ hoặc chuyển kỳ sau thì người nộp thuế phải nộp đủ số tiền chênh lệch và tiền chậm nộp (nếu thuộc trường hợp phải tính tiền chậm nộp) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ngược lại, nếu việc khai bổ sung làm giảm số thuế phải nộp, tăng số thuế được khấu trừ, tăng số thuế được hoàn hoặc tăng số thuế được chuyển sang kỳ sau thì số chênh lệch được xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngoài ra, Điều 12 Nghị định 252/2026/NĐ-CP cũng quy định việc khai bổ sung chỉ được thực hiện đối với hồ sơ khai thuế có sai sót và phải bảo đảm đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan theo quy định. Trường hợp cơ quan thuế đã công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế thì việc khai bổ sung được thực hiện theo phạm vi, thời điểm và nguyên tắc quy định tại Điều 12 Luật Quản lý thuế.
RSS