Tại Công văn 7713/BTC-QLCS, theo Bộ Tài chính, từ ngày 01/8/2024, trường hợp hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 thì việc tính tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất chuyển mục đích được thực hiện theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15, khoản 1, khoản 2 và điểm c khoản 5 Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 không quy định việc cộng dồn diện tích đất ở hiện có khi xác định tiền sử dụng đất. Đồng thời, chính sách về mức thu tiền sử dụng đất này chỉ được áp dụng một lần đối với một hộ gia đình, cá nhân và được tính trên 01 thửa đất do hộ gia đình, cá nhân lựa chọn.
Công văn cũng nêu rõ các trường hợp được áp dụng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 gồm:
- Đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất;
- Đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất;
- Đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01/7/2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.
Bộ Tài chính cho biết Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP chỉ hướng dẫn việc xác định tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15, đồng thời hướng dẫn về số lần được áp dụng, việc lựa chọn thửa đất áp dụng, xác định hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất và xử lý trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được áp dụng chính sách này nhưng tiếp tục đề nghị lựa chọn thửa đất khác để được hưởng.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề nghị Thuế các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan liên quan căn cứ quy định của pháp luật và hồ sơ thực tế của từng hộ gia đình, cá nhân để xác định và thu, nộp nghĩa vụ tài chính về đất đai đúng quy định.
RSS