Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định một số trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả. Tuy nhiên, nếu đáp ứng đủ điều kiện, cá nhân có thể làm cam kết để tạm thời chưa bị khấu trừ thuế. Vậy trường hợp nào cá nhân được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân?
- 1. Trường hợp nào cá nhân được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân?
- 1.1. Trường hợp cá nhân được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân
- 1.2. Những trường hợp bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân
- 1.3. Làm cam kết có được miễn thuế thu nhập cá nhân không?
- 2. Tổ chức trả thu nhập có khấu trừ thuế trong trường hợp cá nhân đã có cam kết?
- 3. Thu nhập đã bị khấu trừ 10% có phải quyết toán thuế không?
- 4. Trường hợp nào cá nhân được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế thay?
1. Trường hợp nào cá nhân được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân?
1.1. Trường hợp cá nhân được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân
Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
“2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.”
Theo đó, tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho đối tượng quy định tại Điều này mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế. Tuy nhiên, cá nhân được làm cam kết để tạm thời chưa bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân khi đáp ứng đồng thời các điều kiện:
- Chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ theo tỷ lệ 10%;
- Ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế;
- Lập cam kết theo mẫu ban hành kèm văn bản hướng dẫn về quản lý thuế;
- Gửi cam kết cho tổ chức trả thu nhập.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập tạm thời không thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tại thời điểm chi trả.

1.2. Những trường hợp bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân
Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP nêu trên, việc khấu trừ 10% áp dụng đối với cá nhân cư trú thuộc các trường hợp:
- Không ký hợp đồng lao động;
- Ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng;
- Đã chấm dứt hợp đồng lao động nhưng sau đó được chi trả tiền lương hoặc thu nhập khác.
Nếu mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi chi trả.
Nếu mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần thì việc khấu trừ 10% chỉ thực hiện khi cá nhân có yêu cầu.
1.3. Làm cam kết có được miễn thuế thu nhập cá nhân không?
Bản cam kết chỉ là căn cứ để tổ chức trả thu nhập tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Việc tạm thời chưa khấu trừ không đồng nghĩa với việc khoản thu nhập đó được xác định là thu nhập miễn thuế.
Cá nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về nội dung đã cam kết. Trường hợp có gian lận thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức trả thu nhập có khấu trừ thuế trong trường hợp cá nhân đã có cam kết?
Theo đó, sau khi nhận được cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ 10% tại thời điểm chi trả.
Tuy nhiên, khi kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
3. Thu nhập đã bị khấu trừ 10% có phải quyết toán thuế không?
Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân trả thu nhập và cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế theo năm, trừ một số trường hợp không phải quyết toán.
Trong đó, khoản 1 Điều 51 quy định Nghị định 253/2026/NĐ-CP:
“Cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 50 của Nghị định này thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.”
Theo quy định trên, cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác thuộc diện khấu trừ 10% có thể không phải quyết toán thuế đối với riêng phần thu nhập này nếu đáp ứng đồng thời hai điều kiện:
- Phần thu nhập ở nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng;
- Khoản thu nhập này đã được tổ chức, cá nhân chi trả thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10%.
Trường hợp cá nhân lựa chọn quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế, hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ hỗ trợ tổng hợp các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm và trừ số thuế thu nhập cá nhân đã được tổ chức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ trong năm.
Quy định này áp dụng đối với trường hợp thu nhập đã thực tế bị khấu trừ 10%, khác với trường hợp cá nhân làm cam kết tại mục 1 để tạm thời chưa bị khấu trừ thuế.
4. Trường hợp nào cá nhân được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế thay?
Khoản 2 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP cho phép người nộp thuế ủy quyền cho tổ chức chi trả thu nhập quyết toán thuế thay, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại tổ chức đó vào thời điểm quyết toán thuế;
- Cá nhân thuộc trường hợp nêu trên và có thêm nguồn thu nhập khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng, đã được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.
Trường hợp thứ hai có liên quan trực tiếp đến khoản thu nhập bị khấu trừ 10%. Nếu khoản thu nhập thêm đáp ứng điều kiện không phải quyết toán đối với phần thu nhập đó thì cá nhân vẫn có thể ủy quyền cho tổ chức nơi mình đang làm việc quyết toán thuế thay đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện quyết toán.
Tuy nhiên, nếu trong kỳ tính thuế cá nhân có yêu cầu giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ theo Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và muốn tính các khoản này trước khi tính thuế thì cá nhân phải tự quyết toán thuế.
Trên đây là thông tin về “Trường hợp nào cá nhân được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 253/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS