- 1. Bổ sung hình thức cá nhân độc lập kinh doanh dịch vụ kế toán
- 2. Mở rộng đối tượng được thuê dịch vụ kế toán
- 3. Tiêu chuẩn đối với cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán
- 4. Quy định rõ hơn các trường hợp không được kinh doanh dịch vụ kế toán
- 5. Làm rõ trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ kế toán
- 6. Bổ sung trách nhiệm cập nhật kiến thức và tuân thủ kiểm tra nghề nghiệp
- 7. Bổ sung trường hợp bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán
- 8. Thay đổi cơ chế quản lý chứng chỉ và hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán
- 9. Điều chỉnh quy định về người không được làm kế toán
- 10. Luật Kế toán sửa đổi dự kiến có hiệu lực từ 01/3/2027
Dưới đây là 9 nội dung đáng chú ý mà người làm kế toán, kế toán trưởng và cá nhân có nhu cầu cung cấp dịch vụ kế toán cần quan tâm.
1. Bổ sung hình thức cá nhân độc lập kinh doanh dịch vụ kế toán
Theo Luật Kế toán 2015, hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán được quy định chủ yếu thông qua doanh nghiệp và hộ kinh doanh dịch vụ kế toán. Luật cũng có quy định riêng về kế toán viên hành nghề và điều kiện đăng ký hành nghề.
Tại khoản 2 Điều 1, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập đề xuất bổ sung khoản 19 và khoản 20 Điều 3 Luật Kế toán, làm rõ khái niệm cá nhân và tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán.
Theo đó, cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán có thể cung cấp dịch vụ theo hợp đồng dưới một trong các hình thức:
-
Cá nhân độc lập kinh doanh dịch vụ kế toán;
-
Hộ kinh doanh dịch vụ kế toán;
-
Cá nhân thực hiện dịch vụ thông qua tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán.
Trong khi đó, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán gồm doanh nghiệp và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam kinh doanh dịch vụ kế toán theo hợp đồng.

2. Mở rộng đối tượng được thuê dịch vụ kế toán
Một thay đổi đáng chú ý khác là mở rộng đối tượng được thuê dịch vụ kế toán.
Khoản 1 Điều 56 Luật Kế toán 2015 hiện quy định đơn vị kế toán được ký hợp đồng với doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ kế toán để thuê dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng.
Tuy nhiên, tại khoản 7 Điều 1, Dự thảo đề xuất sửa đổi quy định này theo hướng bổ sung hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vào nhóm đối tượng được thuê dịch vụ kế toán.
Đồng thời, chủ thể cung cấp dịch vụ cũng được mở rộng, bao gồm cá nhân và tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán.
Như vậy, nếu được thông qua, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn để thuê người hoặc tổ chức bên ngoài thực hiện công việc kế toán, thay vì chỉ giới hạn ở các đơn vị kế toán như quy định hiện hành.
3. Tiêu chuẩn đối với cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán
Đối với người làm nghề kế toán có nhu cầu cung cấp dịch vụ độc lập, quy định về tiêu chuẩn hành nghề là nội dung cần đặc biệt quan tâm.
Theo Điều 57 Luật Kế toán 2015, pháp luật quy định về chứng chỉ kế toán viên. Trong đó, việc hành nghề dịch vụ kế toán còn gắn với điều kiện đăng ký hành nghề qua doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc hộ kinh doanh dịch vụ kế toán theo Điều .
Trong khi đó, Dự thảo đề xuất sửa đổi Điều 57 theo hướng quy định trực tiếp tiêu chuẩn đối với cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán.
Cụ thể:
-
Cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn của người làm kế toán quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Kế toán.
-
Cá nhân ký tên trên báo cáo tài chính của khách hàng phải đáp ứng yêu cầu về năng lực chuyên môn cung cấp dịch vụ kế toán và được cấp chứng chỉ năng lực kinh doanh dịch vụ kế toán theo quy định của Bộ Tài chính.
-
Cá nhân cung cấp dịch vụ làm kế toán trưởng phải có chứng chỉ bồi dưỡng kế toán trưởng và ít nhất 02 năm công tác thực tế về kế toán.
Điểm đáng chú ý là Dự thảo không đặt ra yêu cầu tất cả người làm kế toán đều phải có chứng chỉ năng lực kinh doanh dịch vụ kế toán. Yêu cầu này tập trung vào cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán, đặc biệt là người ký báo cáo tài chính cho khách hàng.
4. Quy định rõ hơn các trường hợp không được kinh doanh dịch vụ kế toán
Dự thảo cũng đề xuất sửa đổi Điều 68 Luật Kế toán nhằm làm rõ các trường hợp cá nhân không được kinh doanh dịch vụ kế toán.
Theo đó, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau sẽ không được kinh doanh dịch vụ kế toán:
-
Có quan hệ gia đình với người có trách nhiệm quản lý, điều hành, kế toán trưởng của khách hàng, trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Dự thảo.
-
Không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán.
-
Đơn vị kế toán yêu cầu thực hiện công việc trái với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp hoặc không phù hợp với yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ kế toán, tài chính.
Bên cạnh đó, cá nhân không được ký báo cáo tài chính cho khách hàng nếu thuộc các trường hợp không đáp ứng điều kiện theo quy định hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán.
Quy định này nhằm hạn chế xung đột lợi ích và bảo đảm tính độc lập, khách quan trong quá trình cung cấp dịch vụ kế toán.
5. Làm rõ trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ kế toán
Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán cũng là nội dung được Dự thảo đề xuất sửa đổi.
Theo khoản 5 Điều 56 Luật Kế toán 2015, doanh nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán và người được thuê làm kế toán, kế toán trưởng phải chịu trách nhiệm về thông tin, số liệu kế toán theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ.
Dự thảo tiếp tục sửa đổi quy định này và Điều 67 theo hướng phân định cụ thể trách nhiệm của từng chủ thể.
Cụ thể:
-
Cá nhân hoặc hộ kinh doanh trực tiếp ký hợp đồng với khách hàng phải chịu trách nhiệm trước khách hàng về chất lượng dịch vụ trong phạm vi hợp đồng.
-
Tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán ký hợp đồng với khách hàng phải chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn của cá nhân cung cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ đã cung cấp.
-
Cá nhân cung cấp dịch vụ thông qua tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán phải chịu trách nhiệm trước tổ chức và thực hiện bồi thường (nếu có) theo hợp đồng lao động đã ký kết.
Ngoài ra, cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung dịch vụ đã cung cấp và bồi thường thiệt hại do mình gây ra theo hợp đồng, quy định pháp luật.
Như vậy, trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ không chỉ dừng lại ở việc thực hiện công việc theo hợp đồng mà còn gắn với chất lượng dịch vụ và hậu quả do sai phạm gây ra.
6. Bổ sung trách nhiệm cập nhật kiến thức và tuân thủ kiểm tra nghề nghiệp
Để bảo đảm chất lượng dịch vụ kế toán, Dự thảo đề xuất quy định rõ hơn trách nhiệm cập nhật kiến thức của cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán.
Theo Điều 67 được đề xuất sửa đổi, các chủ thể này có trách nhiệm:
-
Cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính.
-
Tuân thủ sự quản lý nghề nghiệp và kiểm tra hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán của Bộ Tài chính.
-
Kê khai, cập nhật thông tin về hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán để xây dựng cơ sở dữ liệu về cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán.
So với cách tiếp cận trước đây chủ yếu gắn việc cập nhật kiến thức với kế toán viên hành nghề, Dự thảo đề xuất đặt trách nhiệm này trực tiếp đối với cá nhân và tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán.
7. Bổ sung trường hợp bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán
Dự thảo sửa đổi Điều 69 Luật Kế toán theo hướng quy định các trường hợp cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán bị đình chỉ hoạt động có thời hạn.
Các trường hợp đáng chú ý gồm:
-
Có sai phạm về chuyên môn hoặc vi phạm chuẩn mực kế toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng.
-
Làm sai lệch hoặc thông đồng, móc nối để làm sai lệch tài liệu kế toán, báo cáo tài chính; cung cấp thông tin, số liệu báo cáo sai sự thật.
-
Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ năng lực chuyên môn cung cấp dịch vụ kế toán dưới mọi hình thức.
Theo Dự thảo, Bộ Tài chính được giao quy định chi tiết về thời hạn đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán.
Như vậy, việc sử dụng chứng chỉ không đúng quy định, thông đồng làm sai lệch số liệu hoặc vi phạm nghiêm trọng về chuyên môn có thể dẫn đến việc bị đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.
8. Thay đổi cơ chế quản lý chứng chỉ và hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán
Một trong những thay đổi có tính hệ thống tại Dự thảo là việc điều chỉnh cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.
Luật Kế toán 2015 hiện có các quy định riêng về đăng ký hành nghề, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, loại hình doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và hộ kinh doanh dịch vụ kế toán tại các Điều 58, 60, 61, 62, 63, 64, 65 và 66.
Tuy nhiên, Dự thảo đề xuất bãi bỏ các điều khoản này, đồng thời sửa đổi Điều 57, Điều 67 và các quy định liên quan để chuyển sang cơ chế quản lý gắn với cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ kế toán và chứng chỉ năng lực.
Theo đó, Bộ Tài chính được giao quy định về việc thi, cấp, thu hồi, quản lý chứng chỉ năng lực kinh doanh dịch vụ kế toán; cập nhật kiến thức; quản lý, kiểm tra, giám sát và công khai thông tin về hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.
Đáng chú ý, theo quy định chuyển tiếp tại khoản 3 Điều 3 Dự thảo, cá nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tại Điều 57 được kinh doanh dịch vụ kế toán mà không phải đăng ký và không phải nộp phí để được Bộ Tài chính chấp thuận trước khi cung cấp dịch vụ.
Đây là thay đổi đáng quan tâm đối với những người có chuyên môn kế toán muốn cung cấp dịch vụ độc lập.
9. Điều chỉnh quy định về người không được làm kế toán
Bên cạnh hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán, Dự thảo còn đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 52 Luật Kế toán về những trường hợp không được làm kế toán.
Theo quy định hiện hành, một số đối tượng không được làm kế toán gồm người đang bị cấm hành nghề kế toán theo bản án hoặc quyết định của Tòa án; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đang phải chấp hành hình phạt tù; người đã bị kết án về các tội liên quan đến kinh tế, chức vụ, tài chính, kế toán mà chưa được xóa án tích.
Dự thảo đề xuất diễn đạt rõ hơn nhóm người đã bị kết án về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán mà chưa được xóa án tích.
Nội dung này cần được người làm kế toán lưu ý bởi đây là điều kiện liên quan trực tiếp đến việc được bố trí, đảm nhiệm công việc kế toán tại đơn vị.
10. Luật Kế toán sửa đổi dự kiến có hiệu lực từ 01/3/2027
Theo Điều 3 Dự thảo, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập dự kiến có hiệu lực từ ngày 01/03/2027.
Đối với các giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán đã được cấp trước ngày Luật có hiệu lực và chưa hết thời hạn, Dự thảo quy định tiếp tục được sử dụng đến khi hết thời hạn.
Ngoài ra, một số chứng chỉ đã được cấp trước thời điểm này cũng được đề xuất công nhận có giá trị như chứng chỉ năng lực kinh doanh dịch vụ kế toán đối với cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán, gồm:
-
Chứng chỉ hành nghề kế toán được cấp theo Luật Kế toán số 03/2003/QH11.
-
Chứng chỉ kế toán viên được Bộ Tài chính cấp trước ngày 01/03/2027 theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13.
-
Chứng chỉ kiểm toán viên theo Luật Kiểm toán độc lập.
Trên đây là 10 quy định sắp thay đổi với người làm nghề kế toán theo Dự thảo Luật Kế toán sửa đổi.
Lưu ý: Các nội dung trên mới là đề xuất tại Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập, chưa phải quy định chính thức. Người làm kế toán, kế toán trưởng và cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán cần tiếp tục theo dõi quá trình xây dựng, thông qua Luật để cập nhật và thực hiện đúng quy định.
RSS