Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định cơ chế đặc thù trong xử lý vi phạm liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ. Vậy vi phạm trong lĩnh vực kinh tế và khoa học, công nghệ bị không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?
- 1. Vi phạm trong lĩnh vực kinh tế và khoa học, công nghệ bị không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?
- 1.1. Điều kiện “không tham nhũng”
- 1.2. Điều kiện “vì lợi ích chung”
- 1.3. Điều kiện “mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước”
- 1.4. Điều kiện “không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm”
- 1.5. Điều kiện “không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc đã khắc phục toàn bộ thiệt hại”
- 2. Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như thế nào?
- 2.1. Trường hợp đang giải quyết nguồn tin về tội phạm
- 2.2. Trường hợp đang điều tra, truy tố hoặc xét xử
- 3. Chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại có được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự không?
- 3.1. Thời hạn tạm đình chỉ để khắc phục hậu quả thiệt hại
- 3.2. Quy định về thực hiện cam kết và tiến độ khắc phục hậu quả thiệt hại
- 3.3. Xử lý khi hết thời hạn tạm đình chỉ
1. Vi phạm trong lĩnh vực kinh tế và khoa học, công nghệ bị không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?
Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định về việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vi phạm liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số như sau:
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị quyết này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.”
“Điều 5. Không truy cứu trách nhiệm hình sự
Cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Không tham nhũng;
2. Vì lợi ích chung;
3. Các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước;
4. Không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã được giải quyết dứt điểm theo quy định;
5. Không gây thất thoát, lãng phí tài sản. Trường hợp gây thất thoát, lãng phí tài sản thì đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại.”
Như vậy, Cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh tế và khoa học, công nghệ khi đáp ứng đủ 05 điều kiện quy định tại Điều 5 Nghị quyết 37/2026/QH16.

Trong đó, các điều kiện được giải thích cụ thể tại Điều 4 Nghị quyết 37/2026/QH16 như sau:
1.1. Điều kiện “không tham nhũng”
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 37/2026/QH16, không tham nhũng được giải tích như sau:
“Không tham nhũng là việc không thực hiện các hành vi tham nhũng được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng được quy định trong Bộ luật Hình sự và được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật kết luận bằng văn bản.”
Theo quy định trên, “không tham nhũng” là việc:
- Không thực hiện các hành vi tham nhũng được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng được quy định trong Bộ luật Hình sự; và
- Được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật kết luận bằng văn bản.
1.2. Điều kiện “vì lợi ích chung”
Đối với điều kiện vì lợi ích chung, khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định:
“Vì lợi ích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, của ngành, lĩnh vực, địa phương, vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi.”
Như vậy, có thể hiểu “vì lợi ích chung” là”
- Vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, của ngành, lĩnh vực, địa phương
- Vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
- Không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi.
1.3. Điều kiện “mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước”
Khoản 5 Điều 4 Nghị quyết 37/2026/QH16 giải thích:
“Mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.”
Theo đó, điều kiện về “mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước” bao gồm:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm
- Cải thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
1.4. Điều kiện “không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm”
Khoản 6 Điều 4 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định về điều kiện “không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã được giải quyết dứt điểm” như sau:
“Không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã được giải quyết dứt điểm theo quy định là không phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ hoặc có phát sinh khiếu nại, tố cáo nhưng đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành thông báo chấm dứt thụ lý, giải quyết hoặc đã được giải quyết bằng văn bản đã có hiệu lực thuộc lĩnh vực tư pháp cho đến khi xem xét, xử lý vi phạm theo Nghị quyết này.”
Như vậy, điều kiện “không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã được giải quyết dứt điểm” bao gồm cả trường hợp không phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ và trường hợp đã phát sinh nhưng được giải quyết dứt điểm theo quy định.
1.5. Điều kiện “không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc đã khắc phục toàn bộ thiệt hại”
Theo khoản 5 Điều 5 Nghị quyết 37/2026/QH16, trường hợp không gây thất thoát, lãng phí tài sản thì đáp ứng điều kiện này. Nếu đã gây thất thoát, lãng phí tài sản thì phải khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại.
Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết xác định việc khắc phục hậu quả thiệt hại là việc tổ chức, cá nhân vi phạm và tổ chức, cá nhân có lợi ích trực tiếp từ hành vi vi phạm thực hiện bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các bên liên quan và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân trong lợi ích tổng thể của quốc gia. Cụ thể như sau:
“Khắc phục hậu quả thiệt hại là việc tổ chức, cá nhân vi phạm và tổ chức, cá nhân có lợi ích trực tiếp từ hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thực hiện bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các bên liên quan; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân trong lợi ích tổng thể của quốc gia.”
2. Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như thế nào?
Điều 8 và Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định việc miễn trách nhiệm hình sự, không khởi tố vụ án hình sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án đối với các trường hợp đáp ứng điều kiện theo Nghị quyết.
2.1. Trường hợp đang giải quyết nguồn tin về tội phạm
Khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định:
“Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.”
Theo đó, khi đang giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ không truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 5 hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 6 thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
2.2. Trường hợp đang điều tra, truy tố hoặc xét xử
Khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định:
“Điều 9. Không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa
2.Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 6 hoặc Điều 8 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.”
Ngoài ra, Điều 8 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định:
“Điều 8. Miễn trách nhiệm hình sự
Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này.”
Như vậy, tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan có thẩm quyền thực hiện như sau:
- Giai đoạn điều tra: Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra.
- Giai đoạn truy tố: Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can.
- Giai đoạn xét xử: Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
3. Chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại có được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Theo Điều 7 Nghị quyết 37/2026/QH16, cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả thiệt hại khi có đủ các điều kiện sau:
- Vì lợi ích chung;
- Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng;
- Các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có điều kiện, khả năng và bảo đảm tính khả thi để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; có cam kết của tổ chức, cá nhân có liên quan khắc phục hậu quả thiệt hại.
Như vậy, trường hợp chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại vẫn có thể được xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên.
3.1. Thời hạn tạm đình chỉ để khắc phục hậu quả thiệt hại
Khoản 3 Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định như sau:
“Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này, trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quyết định tạm đình chỉ điều tra; trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; trong giai đoạn xét xử, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa.
Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hạn hoãn phiên tòa được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.”
Theo quy định này, khi có đủ căn cứ tại Điều 7 Nghị quyết 37/2026/QH16, tùy giai đoạn tố tụng, cơ quan có thẩm quyền quyết định:
- Trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra: Cơ quan điều tra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc tạm đình chỉ điều tra.
- Trong giai đoạn truy tố: Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
- Trong giai đoạn xét xử: Tòa án quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo hoặc hoãn phiên tòa.
- Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng thời hạn hoãn phiên tòa thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.2. Quy định về thực hiện cam kết và tiến độ khắc phục hậu quả thiệt hại
Khoản 5 Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định:
“Trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết, tiến độ khắc phục hậu quả thiệt hại của tổ chức, cá nhân được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp không khắc phục hoặc khắc phục hậu quả thiệt hại không theo tiến độ và phương án đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành các quyết định tạm đình chỉ quy định tại khoản 3 Điều này hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục tiến hành thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.”
Như vậy, trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết và tiến độ khắc phục hậu quả thiệt hại.
Trường hợp không khắc phục hoặc khắc phục không đúng tiến độ, phương án đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì cơ quan, người có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục tiến hành thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
3.3. Xử lý khi hết thời hạn tạm đình chỉ
Khoản 4 Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định khi hết thời hạn tạm đình chỉ thì cơ quan tiến hành tố tụng xử lý tùy theo tình trạng khắc phục hậu quả như sau:
- Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại: Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo;
- Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại: Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại, hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Trên đây là thông tin về “Vi phạm trong lĩnh vực kinh tế và khoa học, công nghệ bị không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?”. Các điều kiện không truy cứu trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự và việc xử lý vụ việc được quy định cụ thể tại Nghị quyết 37/2026/QH16.
RSS