Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng kết hợp cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm. Vậy trường hợp nào cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải tiền kiểm, trường hợp nào hậu kiểm? Thời hạn và nội dung kiểm tra được quy định ra sao?
- 1. Các trường hợp cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải tiền kiểm và hậu kiểm
- 1.1. Tiền kiểm khi nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
- 1.2. Hậu kiểm đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số
- 2. Nội dung và hình thức kiểm tra vùng trồng, cơ sở đóng gói
- 2.1. Nội dung kiểm tra đối với vùng trồng
- Thứ nhất, kiểm tra thông tin đăng ký ban đầu.
- Thứ hai, đánh giá các nội dung tại vùng trồng
- 2.2. Nội dung kiểm tra đối với cơ sở đóng gói
- 2.3. Hình thức kiểm tra và xác nhận thông tin vùng trồng
- 3. Thẩm quyền kiểm tra và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được cấp mã số
- 3.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra, hậu kiểm
- 3.2. Tổ chức, cá nhân tự kê khai và chịu trách nhiệm về thông tin đăng ký

1. Các trường hợp cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải tiền kiểm và hậu kiểm
1.1. Tiền kiểm khi nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định:
“Thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.”
Theo quy định trên, tiền kiểm chỉ áp dụng đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số.
Cụ thể, điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định:
“Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra và ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói [...]”
Đối với trường hợp này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải tổ chức kiểm tra trước khi ban hành Thông báo cấp mã số.
Việc kiểm tra nhằm xác định:
- Thông tin đã kê khai trong hồ sơ đề nghị cấp mã số;
- Việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu.
Thời hạn tổ chức kiểm tra và ban hành Thông báo cấp mã số không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Nếu không cấp mã số, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
1.2. Hậu kiểm đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số
Điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định:
“Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.”
Theo đó, đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói không đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, việc giải quyết hồ sơ được thực hiện theo cơ chế hậu kiểm.
Cụ thể:
- Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số theo quy định;
- Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Thông báo cấp mã số;
- Trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
- Sau khi mã số được cấp, cơ quan có thẩm quyền thực hiện hậu kiểm theo quy định.
Về thời hạn hậu kiểm, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định:
“[...] tổ chức hậu kiểm đối với trường hợp mã số được cấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị quyết này trong thời hạn tối đa 03 tháng kể từ ngày mã số được cấp và trả lời ngay cho tổ chức, cá nhân.”
Thời hạn hậu kiểm tối đa là 03 tháng kể từ ngày mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được cấp đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4.
2. Nội dung và hình thức kiểm tra vùng trồng, cơ sở đóng gói
2.1. Nội dung kiểm tra đối với vùng trồng
Theo điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, nội dung kiểm tra bao gồm thông tin kê khai trong hồ sơ và việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu.
Đối với vùng trồng, việc kiểm tra được lập biên bản theo Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị quyết. Theo mẫu biên bản này, các nội dung kiểm tra gồm hai nhóm chính.
Thứ nhất, kiểm tra thông tin đăng ký ban đầu.
Bao gồm:
- Diện tích vùng trồng;
- Số hộ tham gia sản xuất;
- Giai đoạn sinh trưởng của cây trồng;
- Thời gian dự kiến thu hoạch;
- Sản lượng dự kiến thu hoạch;
- Các thông tin khác, nếu có.
Thứ hai, đánh giá các nội dung tại vùng trồng
Bao gồm:
- Quy trình sản xuất;
- Việc ghi chép và lưu giữ thông tin;
- Vị trí vùng trồng, bao gồm vị trí của từng thửa đất;
- Các yêu cầu khác, nếu có.
Phụ lục VI cũng quy định trường hợp vùng trồng đã có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, VietGAP, GlobalGAP hoặc các chứng nhận tương đương thì không kiểm tra những nội dung trùng lặp đã được bên thứ ba đánh giá.
Biên bản kiểm tra phải thể hiện kết quả đạt hoặc không đạt. Nếu không đạt, biên bản xác định tình trạng có thể khắc phục hoặc không thể khắc phục, đồng thời ghi rõ nội dung cần khắc phục.
2.2. Nội dung kiểm tra đối với cơ sở đóng gói
Đối với cơ sở đóng gói, điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định biên bản kiểm tra được lập theo Phụ lục VII. Theo đó, nội dung kiểm tra thực tế tại cơ sở đóng gói bao gồm:
Nhóm thông tin đăng ký ban đầu:
- Diện tích cơ sở đóng gói;
- Số lượng nhân sự;
- Sản phẩm cây trồng được đóng gói tại cơ sở;
- Công suất đóng gói trong ngày;
- Những thay đổi so với đăng ký hoặc đăng ký lần đầu;
- Các thông tin khác, nếu có.
Nhóm nội dung đánh giá tại cơ sở đóng gói:
- Cơ sở hạ tầng;
- Trang thiết bị;
- Quy trình đóng gói;
- Người lao động;
- Việc ghi chép;
- Các yêu cầu khác, nếu có.
Tương tự vùng trồng, Phụ lục VII quy định trường hợp cơ sở đóng gói đã có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, HACCP, GMP, ISO 22000 hoặc các chứng nhận tương đương thì không kiểm tra các nội dung trùng lặp đã được bên thứ ba đánh giá.
Kết quả kiểm tra được xác định theo mức đạt hoặc không đạt, trong đó ghi rõ nội dung cần khắc phục đối với trường hợp không đạt.
2.3. Hình thức kiểm tra và xác nhận thông tin vùng trồng
Theo Phụ lục VI và Phụ lục VII Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, mẫu biên bản kiểm tra vùng trồng và cơ sở đóng gói đều có phần xác định hình thức kiểm tra gồm:
- Kiểm tra trực tiếp;
- Kiểm tra trực tuyến.
Riêng đối với vùng trồng, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định:
“Trường hợp thửa đất đề nghị cấp mã số vùng trồng chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh thửa đất thì tổ chức, cá nhân đề nghị cấp mã số vùng trồng tự kê khai về diện tích và vị trí, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo thực hiện xác nhận thông tin trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.”
Trường hợp thửa đất chưa có hoặc chưa khai thác được mã định danh, tổ chức, cá nhân vẫn được tự kê khai diện tích, vị trí thửa đất.
Việc xác nhận thông tin được thực hiện trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Thẩm quyền kiểm tra và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được cấp mã số
3.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra, hậu kiểm
Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các thủ tục hành chính về:
- Cấp, cấp lại mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói;
- Phê duyệt mã số trong trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt;
- Thu hồi, tạm dừng, khôi phục mã số;
- Tổ chức hậu kiểm đối với trường hợp được cấp mã số theo điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP.
Đối với hoạt động hậu kiểm, thời hạn thực hiện tối đa là 03 tháng kể từ ngày mã số được cấp, đồng thời phải trả lời ngay cho tổ chức, cá nhân.
Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết quy định:
“Việc hậu kiểm sử dụng biên bản theo Mẫu tại Phụ lục VI (đối với vùng trồng) hoặc Phụ lục VII (đối với cơ sở đóng gói) ban hành kèm theo Nghị quyết này.”
Theo đó, việc hậu kiểm được sử dụng cùng hệ thống biểu mẫu biên bản kiểm tra quy định cho vùng trồng và cơ sở đóng gói.
3.2. Tổ chức, cá nhân tự kê khai và chịu trách nhiệm về thông tin đăng ký
Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định:
“Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm [...]”
Nguyên tắc này gắn với việc đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và thực hiện kiểm tra, giám sát sau khi cấp đối với các trường hợp thuộc diện hậu kiểm.
Đồng thời, khoản 4 Điều 6 Nghị quyết quy định:
“Tổ chức, cá nhân đăng ký cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của thông tin đã kê khai trong đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói.”
Dù thuộc trường hợp tiền kiểm hay hậu kiểm, tổ chức, cá nhân đăng ký đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã kê khai. Việc không phải kiểm tra trước khi cấp mã số đối với trường hợp áp dụng hậu kiểm không làm thay đổi trách nhiệm này.
Trên đây là thông tin về các trường hợp phải tiền kiểm, hậu kiểm khi cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Vui lòng xem chi tiết Nghị quyết 36/2026/NQ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS