Theo quy định tại Nghị định 38/2026/NĐ-CP, việc tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra và cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên môn do UBND cấp tỉnh giao thực hiện. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP đã thay đổi cơ chế này khi quy định tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Cùng với đó, Điều 6 Nghị quyết 36 giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh phân công Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện hàng loạt nhiệm vụ liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói như cấp, cấp lại, phê duyệt, tạm dừng, thu hồi, khôi phục mã số và tổ chức hậu kiểm theo quy định.
Một điểm mới đáng chú ý khác là thời hạn giải quyết hồ sơ được phân loại theo mục đích xuất khẩu, thay vì áp dụng chung như trước. Cụ thể, đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu về mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, Chủ tịch UBND cấp xã phải ban hành Thông báo cấp mã số trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trong khi đó, nếu đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn giải quyết là không quá 10 ngày làm việc để kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu của nước nhập khẩu trước khi cấp mã số hoặc thực hiện các bước tiếp theo theo quy định.
RSS