Dịch vụ viễn thông công ích không chỉ cần mở rộng vùng phủ sóng mà còn phải đáp ứng ngưỡng tốc độ nhất định để bảo đảm khả năng truy cập Internet thực tế. Vậy, Tốc độ mạng 4G, 5G và Internet vệ tinh tối thiểu theo quy định mới là bao nhiêu?
- 1. Mức tốc độ tối thiểu của 4G, 5G và Internet vệ tinh
- 1.1. Mạng 4G phải đạt tối thiểu 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên
- 1.2. Mạng 5G phải đạt tối thiểu 100 Mbit/s tải xuống và 30 Mbit/s tải lên
- 1.3. Internet vệ tinh phải đạt tối thiểu 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên
- 2. Tốc độ Internet được đo và xác định kết quả như thế nào?
- 2.1. Việc đo sử dụng hệ thống VNNIC Internet Speed và i-Speed
- 2.2. Mạng di động được đo 05 lần tại mỗi vị trí
- 2.3. Internet vệ tinh áp dụng phương pháp đo tương tự mạng di động mặt đất
- 3. Cách xử lý khi tốc độ Internet đo được không đạt yêu cầu
- 3.1. Tốc độ tại mỗi vị trí được xác định bằng giá trị trung bình của 05 mẫu đo
- 3.2. Việc đo được thực hiện sau ít nhất 15 ngày kể từ khi cung cấp dịch vụ
- 3.3. Nếu tốc độ không đạt yêu cầu, doanh nghiệp được tối ưu mạng và đo lại

1. Mức tốc độ tối thiểu của 4G, 5G và Internet vệ tinh
1.1. Mạng 4G phải đạt tối thiểu 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên
Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, yêu cầu phổ cập dịch vụ viễn thông công ích đối với công nghệ di động mặt đất 4G là:
“Tốc độ tải xuống trung bình tối thiểu 40 Mbit/s và tốc độ tải lên trung bình tối thiểu 10 Mbit/s đo bằng công cụ i-Speed đối với công nghệ di động mặt đất 4G;”
Như vậy, đối với 4G thuộc phạm vi dịch vụ viễn thông công ích, tốc độ được xác định theo giá trị trung bình, trong đó:
- Tải xuống: ít nhất 40 Mbit/s;
- Tải lên: ít nhất 10 Mbit/s;
- Công cụ sử dụng để đo là i-Speed.
1.2. Mạng 5G phải đạt tối thiểu 100 Mbit/s tải xuống và 30 Mbit/s tải lên
Theo điểm b khoản 2 Điều 3 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Tốc độ tải xuống trung bình tối thiểu 100 Mbit/s và tốc độ tải lên trung bình tối thiểu 30 Mbit/s đối với công nghệ di động mặt đất 5G;”
Theo đó, yêu cầu tốc độ đối với mạng 5G cao hơn 4G:
- Tốc độ tải xuống trung bình: tối thiểu 100 Mbit/s;
- Tốc độ tải lên trung bình: tối thiểu 30 Mbit/s.
Ngoài việc đáp ứng ngưỡng tốc độ trên, điểm c khoản 2 Điều 3 còn yêu cầu thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông theo quy định và các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành.
Như vậy, đáp ứng tốc độ 100/30 Mbit/s là một trong các yêu cầu về phổ cập dịch vụ 5G, chứ không thay thế các yêu cầu khác về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông.
1.3. Internet vệ tinh phải đạt tối thiểu 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên
Đối với Internet vệ tinh, điểm a khoản 4 Điều 3 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN quy định:
“Tốc độ tải xuống trung bình tối thiểu 40 Mbit/s và tốc độ tải lên trung bình tối thiểu 10 Mbit/s đo bằng công cụ i-Speed; Bảo đảm đúng cam kết chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vệ tinh;”
Như vậy, Internet băng rộng cố định vệ tinh phải đáp ứng đồng thời:
- Tốc độ tải xuống trung bình tối thiểu 40 Mbit/s;
- Tốc độ tải lên trung bình tối thiểu 10 Mbit/s;
- Được đo bằng công cụ i-Speed;
- Bảo đảm đúng cam kết chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vệ tinh.
Theo điểm đ khoản 1 Điều 3, dịch vụ băng rộng cố định vệ tinh có thể bao gồm dịch vụ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp, vệ tinh quỹ đạo địa tĩnh hoặc quỹ đạo cao hoặc công nghệ truy nhập phù hợp khác. Việc sử dụng công nghệ này đặc biệt phù hợp với hộ dân sống đơn lẻ, khu vực bị chia cắt bởi địa hình hoặc khu vực khó đầu tư trạm thu phát sóng và hạ tầng cáp quang.
2. Tốc độ Internet được đo và xác định kết quả như thế nào?
2.1. Việc đo sử dụng hệ thống VNNIC Internet Speed và i-Speed
Theo khoản 3 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, việc đo sử dụng Hệ thống đo tốc độ truy nhập Internet Việt Nam - VNNIC Internet Speed, do Trung tâm Internet Việt Nam phát triển.
Các công cụ gồm:
- Ứng dụng i-Speed by VNNIC trên thiết bị Android;
- Ứng dụng i-Speed trên thiết bị iOS;
- Website speedtest.vn;
- Website i-speed.vn. Thông-tư-51-2026-TT-BKHCN
Đây cũng là hệ thống được sử dụng để xác định tốc độ truy nhập Internet thông qua trải nghiệm thực tế của người dùng tại khu vực cần phổ cập dịch vụ viễn thông.
2.2. Mạng di động được đo 05 lần tại mỗi vị trí
Đối với Internet di động mặt đất, điểm b khoản 4 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN quy định:
“Mỗi vị trí đo thực hiện 05 mẫu đo bao gồm các vị trí trong nhà, ngoài trời; ghi nhận các chỉ số: tốc độ tải xuống (Mbit/s), tốc độ tải lên (Mbit/s), mỗi lần cách nhau tối thiểu 30 giây.”
Như vậy, việc xác định tốc độ không dựa vào một lần kiểm tra duy nhất.
Tại mỗi vị trí:
- Thực hiện 05 mẫu đo;
- Có vị trí trong nhà và ngoài trời;
- Mỗi lần đo cách nhau ít nhất 30 giây;
- Ghi nhận cả tốc độ tải xuống và tải lên.
Theo điểm c khoản 4 Điều 6, kết quả cuối cùng là:
“Giá trị tốc độ tải xuống và tải lên của vị trí đo là giá trị trung bình của 05 mẫu đo.”
Do đó, khi quy định 4G phải đạt 40/10 Mbit/s hay 5G phải đạt 100/30 Mbit/s, cần hiểu đây là giá trị tốc độ trung bình được xác định theo phương pháp đo của Thông tư.
2.3. Internet vệ tinh áp dụng phương pháp đo tương tự mạng di động mặt đất
Theo khoản 6 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Đối với dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định vệ tinh: phương pháp đo tương tự phương pháp đo đối với dịch vụ viễn thông di động mặt đất quy định tại khoản 4 Điều này.”
Như vậy, với Internet vệ tinh, cách xác định tốc độ cũng dựa trên quy trình đo tương tự mạng di động mặt đất, bao gồm việc thực hiện nhiều mẫu đo và lấy giá trị trung bình theo quy định.
Đúng, bài này trọng tâm là tốc độ mạng 4G, 5G và Internet vệ tinh, nên mục 3 nên tiếp tục xoay quanh cách xác định tốc độ và xử lý khi tốc độ không đạt chuẩn, thay vì chuyển sang trách nhiệm chung của doanh nghiệp.
Cậu có thể thay mục 3 bằng nội dung sau:
3. Cách xử lý khi tốc độ Internet đo được không đạt yêu cầu
3.1. Tốc độ tại mỗi vị trí được xác định bằng giá trị trung bình của 05 mẫu đo
Đối với dịch vụ truy nhập Internet di động mặt đất, điểm b và điểm c khoản 4 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN quy định mỗi vị trí phải thực hiện 05 mẫu đo, mỗi lần cách nhau ít nhất 30 giây và ghi nhận tốc độ tải xuống, tải lên.
“Giá trị tốc độ tải xuống và tải lên của vị trí đo là giá trị trung bình của 05 mẫu đo.”
Như vậy, để xác định mạng 4G có đạt mức 40/10 Mbit/s hoặc mạng 5G có đạt mức 100/30 Mbit/s hay không, không căn cứ vào một lần đo riêng lẻ mà phải lấy giá trị trung bình của 05 lần đo tại vị trí đó.
Đối với Internet băng rộng cố định vệ tinh, khoản 6 Điều 6 quy định phương pháp đo được thực hiện tương tự phương pháp đo đối với dịch vụ viễn thông di động mặt đất.
3.2. Việc đo được thực hiện sau ít nhất 15 ngày kể từ khi cung cấp dịch vụ
Theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Đo tốc độ truy nhập dịch vụ Internet phục vụ báo cáo kết quả cung cấp dịch vụ viễn thông công ích [...] được thực hiện sau ít nhất 15 ngày tính từ thời điểm doanh nghiệp viễn thông thông báo cung cấp dịch vụ trên địa bàn.”
Như vậy, doanh nghiệp không thực hiện đo ngay khi vừa hoàn thành việc cung cấp dịch vụ. Phải chờ ít nhất 15 ngày kể từ thời điểm thông báo cung cấp dịch vụ trên địa bàn rồi mới tiến hành đo tốc độ để phục vụ báo cáo kết quả cung cấp dịch vụ viễn thông công ích.
3.3. Nếu tốc độ không đạt yêu cầu, doanh nghiệp được tối ưu mạng và đo lại
Cũng theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, trường hợp sau khi đo mà kết quả không đạt yêu cầu chất lượng dịch vụ thì:
“...doanh nghiệp được tối ưu mạng và tổ chức đo lại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày doanh nghiệp thông báo đã tối ưu lại mạng.”
Theo đó, nếu kết quả đo cho thấy các chỉ số sau thì doanh nghiệp được tối ưu lại mạng và thực hiện đo lại:
- 4G chưa đạt mức 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên;
- 5G chưa đạt mức 100 Mbit/s tải xuống và 30 Mbit/s tải lên;
- Internet vệ tinh chưa đạt mức 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên,
Việc đo lại phải được tổ chức trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày doanh nghiệp thông báo đã hoàn thành việc tối ưu mạng.
Trên đây là thông tin về tốc độ mạng 4G, 5G và Internet vệ tinh tối thiểu theo quy định mới. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 51/2026/TT-BKHCN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS