Ứng dụng i-Speed được sử dụng để đo tốc độ truy nhập Internet thông qua trải nghiệm thực tế của người dùng. Với dịch vụ viễn thông công ích, việc đo không chỉ cần đúng công cụ mà còn phải tuân thủ yêu cầu về thiết bị, vị trí, số lần đo, khoảng cách giữa các lần đo và cách tính kết quả.
- 1. i-Speed được sử dụng để đo tốc độ truy nhập Internet dịch vụ viễn thông công ích
- 1.1. Kết quả đo phải phản ánh đúng trải nghiệm thực tế của người dùng
- 1.2. Không được can thiệp hoặc làm sai lệch kết quả đo
- 1.3. Việc đo được thực hiện sau ít nhất 15 ngày kể từ khi thông báo cung cấp dịch vụ
- 2. Cách đo tốc độ mạng di động bằng ứng dụng i-Speed
- Thứ nhất, chuẩn bị điện thoại và loại bỏ các yếu tố có thể gây nhiễu
- Thứ hai, mỗi vị trí phải thực hiện 05 mẫu đo
- Thứ ba, lấy giá trị trung bình của 05 lần đo
- 3. Cách đo Internet băng rộng cố định và Internet vệ tinh bằng i-Speed
- 3.1. Internet cố định có thể đo bằng điện thoại kết nối Wi-Fi
- 3.2. Internet cố định cũng thực hiện 05 mẫu đo liên tiếp
- 3.3. Internet vệ tinh áp dụng phương pháp tương tự mạng di động
- 4. Kết quả đo bằng i-Speed phải ghi nhận những thông tin nào?
- 4.1. Kết quả phải có địa điểm, thời gian và tốc độ tải xuống, tải lên
- 4.2. Báo cáo kết quả đo được lập theo Mẫu số 01
- 4.3. Nếu kết quả không đạt, doanh nghiệp được tối ưu mạng và đo lại
(Ảnh minh họa)1. i-Speed được sử dụng để đo tốc độ truy nhập Internet dịch vụ viễn thông công ích
Theo khoản 3 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, việc đo tốc độ truy nhập Internet sử dụng Hệ thống đo tốc độ truy nhập Internet Việt Nam - VNNIC Internet Speed do Trung tâm Internet Việt Nam xây dựng, phát triển. Hệ thống gồm:
- Ứng dụng i-Speed by VNNIC trên thiết bị di động sử dụng Android;
- Ứng dụng i-Speed trên thiết bị sử dụng iOS;
- Website speedtest.vn;
- Website i-speed.vn.
Như vậy, i-Speed là một trong những công cụ được Thông tư 51/2026/TT-BKHCN quy định sử dụng để đo tốc độ Internet phục vụ báo cáo kết quả cung cấp dịch vụ viễn thông công ích.
1.1. Kết quả đo phải phản ánh đúng trải nghiệm thực tế của người dùng
Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Việc đo tốc độ truy nhập Internet phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, phản ánh đúng chất lượng kết nối thực tế mà người dùng trải nghiệm tại thời điểm đo;”
Do đó, khi sử dụng i-Speed, kết quả đo phải phản ánh chất lượng kết nối thực tế tại đúng thời điểm và vị trí thực hiện phép đo. Không được tạo ra điều kiện kỹ thuật bất thường chỉ nhằm làm tăng hoặc giảm kết quả đo.
1.2. Không được can thiệp hoặc làm sai lệch kết quả đo
Điểm b khoản 2 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN quy định:
“Không được can thiệp, làm sai lệch kết quả đo dưới bất kỳ hình thức nào. Trường hợp phát hiện có hành vi gian lận, kết quả đo sẽ bị hủy bỏ và xử lý theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, số liệu từ i-Speed chỉ được sử dụng khi quá trình đo được thực hiện trung thực, khách quan. Nếu có hành vi can thiệp hoặc gian lận, kết quả đo không được công nhận.
1.3. Việc đo được thực hiện sau ít nhất 15 ngày kể từ khi thông báo cung cấp dịch vụ
Theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, việc đo tốc độ Internet phục vụ báo cáo kết quả cung cấp dịch vụ viễn thông công ích:
“...được thực hiện sau ít nhất 15 ngày tính từ thời điểm doanh nghiệp viễn thông thông báo cung cấp dịch vụ trên địa bàn.”
Như vậy, doanh nghiệp không đo ngay sau khi vừa đưa dịch vụ vào cung cấp. Phải bảo đảm đã qua ít nhất 15 ngày kể từ thời điểm thông báo cung cấp dịch vụ trên địa bàn rồi mới thực hiện việc đo phục vụ báo cáo.
2. Cách đo tốc độ mạng di động bằng ứng dụng i-Speed
Thứ nhất, chuẩn bị điện thoại và loại bỏ các yếu tố có thể gây nhiễu
Theo điểm a khoản 4 Điều 6, thiết bị đo phải là điện thoại thông minh:
“...được sản xuất, nhập khẩu và lưu thông trên lãnh thổ Việt Nam, có thể cài đặt, vận hành ổn định ứng dụng Đo tốc độ truy nhập Internet Việt Nam (i-Speed) do Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) phát triển.”
Khi chuẩn bị đo, phải lưu ý:
- Không đặt điện thoại trong phạm vi có khả năng bị nhiễu bởi nguồn phát sóng vô tuyến điện;
- Tránh các thiết bị điện, điện tử gây nhiễu như lò vi sóng đang hoạt động;
- Tránh thiết bị thu, phát Wi-Fi;
- Tránh thiết bị Bluetooth công suất lớn;
- Tránh máy phát tín hiệu;
- Không để các ứng dụng nền đang sử dụng băng thông lớn như tải video hoặc cập nhật phần mềm.
Ngoài ra, trước khi đo phải ghi nhận kinh độ, vĩ độ của vị trí đo và thời gian bắt đầu đo. Tọa độ có thể lấy từ ứng dụng i-Speed hoặc thiết bị định vị.
Thứ hai, mỗi vị trí phải thực hiện 05 mẫu đo
Theo điểm b khoản 4 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Mỗi vị trí đo thực hiện 05 mẫu đo bao gồm các vị trí trong nhà, ngoài trời; ghi nhận các chỉ số: tốc độ tải xuống (Mbit/s), tốc độ tải lên (Mbit/s), mỗi lần cách nhau tối thiểu 30 giây.”
Như vậy, tại một vị trí cần:
- Thực hiện 05 lần đo;
- Có vị trí đo trong nhà và ngoài trời;
- Mỗi lần đo cách nhau ít nhất 30 giây;
- Ghi nhận tốc độ tải xuống;
- Ghi nhận tốc độ tải lên.
Vị trí đo được thực hiện tại nhà văn hóa thôn và các hộ dân theo kết quả phê duyệt đấu thầu, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ của Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam với doanh nghiệp.
Thứ ba, lấy giá trị trung bình của 05 lần đo
Theo điểm c khoản 4 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Giá trị tốc độ tải xuống và tải lên của vị trí đo là giá trị trung bình của 05 mẫu đo.”
Như vậy, không lấy kết quả của lần đo nhanh nhất hoặc chậm nhất để kết luận. Kết quả chính thức tại một vị trí được xác định bằng trung bình cộng của 05 mẫu đo đối với từng thông số:
- Tốc độ tải xuống;
- Tốc độ tải lên.
Đây là cơ sở để đối chiếu với yêu cầu chất lượng áp dụng đối với từng loại dịch vụ.
3. Cách đo Internet băng rộng cố định và Internet vệ tinh bằng i-Speed
3.1. Internet cố định có thể đo bằng điện thoại kết nối Wi-Fi
Theo điểm a khoản 5 Điều 6, nếu sử dụng điện thoại thông minh để đo Internet băng rộng cố định thì điện thoại phải kết nối Internet thông qua thiết bị phát Wi-Fi.
Thiết bị phát Wi-Fi phải:
“...bảo đảm hỗ trợ các băng tần đã được quy hoạch cho thiết bị phát sóng Wi-Fi tại Việt Nam.”
Quy trình đo bằng điện thoại được thực hiện tương tự phương pháp đo mạng di động tại khoản 4 Điều 6 Thông tư. Ngoài điện thoại, có thể sử dụng máy tính đã kết nối Internet, sau đó truy cập speedtest.vn hoặc i-speed.vn để thực hiện đo. Trước khi đo vẫn phải ghi nhận kinh độ, vĩ độ và thời gian bắt đầu đo.
3.2. Internet cố định cũng thực hiện 05 mẫu đo liên tiếp
Theo điểm b khoản 5 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Mỗi vị trí đo thực hiện 05 mẫu đo liên tiếp, mỗi lần cách nhau tối thiểu 30 giây; ghi nhận các chỉ số: tốc độ tải xuống (Mbit/s), tốc độ tải lên (Mbit/s).”
Vị trí đo là nhà dân đã được cung cấp dịch vụ Internet băng rộng cố định.
Nếu chưa có hộ dân sử dụng dịch vụ thì doanh nghiệp phải:
“...thực hiện mô phỏng để tổ chức đo chất lượng dịch vụ.”
Kết quả cuối cùng tiếp tục được tính bằng giá trị trung bình của 05 mẫu đo.
3.3. Internet vệ tinh áp dụng phương pháp tương tự mạng di động
Theo khoản 6 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Đối với dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định vệ tinh: phương pháp đo tương tự phương pháp đo đối với dịch vụ viễn thông di động mặt đất quy định tại khoản 4 Điều này.”
Như vậy, đối với Internet vệ tinh, về cơ bản cũng áp dụng các yêu cầu như:
- Chuẩn bị thiết bị phù hợp;
- Hạn chế các yếu tố gây nhiễu;
- Ghi nhận tọa độ, thời gian;
- Thực hiện 05 mẫu đo;
- Mỗi lần cách nhau tối thiểu 30 giây;
- Lấy giá trị trung bình của 05 mẫu đo.
4. Kết quả đo bằng i-Speed phải ghi nhận những thông tin nào?
4.1. Kết quả phải có địa điểm, thời gian và tốc độ tải xuống, tải lên
Theo khoản 7 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, kết quả đo phải thể hiện:
- Thông tin địa điểm đo, gồm kinh độ, vĩ độ, địa chỉ thôn/xã;
- Thời điểm đo, gồm ngày, giờ;
- Tốc độ tải xuống, đơn vị Mbit/s;
- Tốc độ tải lên, đơn vị Mbit/s.
4.2. Báo cáo kết quả đo được lập theo Mẫu số 01
Theo khoản 8 Điều 6, báo cáo kết quả đo được lập theo Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 51/2026/TT-BKHCN.
Báo cáo có:
- Đại diện doanh nghiệp viễn thông;
- Trưởng thôn hoặc đại diện hộ dân được thụ hưởng dịch vụ;
- Xác nhận của đại diện cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo phân công của UBND tỉnh, thành phố.
4.3. Nếu kết quả không đạt, doanh nghiệp được tối ưu mạng và đo lại
Theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, nếu sau khi đo mà kết quả không đạt yêu cầu chất lượng dịch vụ thì:
“...doanh nghiệp được tối ưu mạng và tổ chức đo lại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày doanh nghiệp thông báo đã tối ưu lại mạng.”
Như vậy, khi kết quả i-Speed chưa đạt yêu cầu, doanh nghiệp có thể:
- Tối ưu lại mạng;
- Thông báo đã hoàn thành việc tối ưu;
- Tổ chức đo lại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông báo.
Thông tư cũng lưu ý, kết quả đo này được sử dụng để phục vụ mục tiêu phổ cập dịch vụ viễn thông công ích và không thay thế hoạt động quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông theo quy định hiện hành.
Trên đây là thông tin về cách đo tốc độ mạng Internet bằng ứng dụng i-Speed theo quy định của Bộ Khoa học Công nghệ. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 51/2026/TT-BKHCN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS